Mục vụ giữa thời đại mới
Tôn giáo, từ buổi bình minh của nhân loại, luôn vươn lên từ nhịp đập của lòng tin và niềm kính úy trước Đấng Tối Cao. Nền đạo muốn đâm chồi và lớn mạnh đều phải cắm rễ sâu vào mảnh đất đức tin. Đối với Kitô giáo, đức tin không dừng lại ở một mớ lý thuyết hay các chuẩn mực trừu tượng, mà là yếu tố cốt lõi mở ra khung trời tương quan thâm sâu giữa con người với Thiên Chúa. Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI từng nhấn mạnh: đức tin vượt lên trên một sự đồng thuận tri thức đơn thuần trước các chân lý; đó là một hành vi tự do, nơi con người dám phó thác trọn vẹn cuộc đời cho Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót.[1] Đức tin giữ vị trí sống còn trong đời sống người tín hữu, bởi vừa là “bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy” (Dt 11,1), vừa là chiếc chìa khóa mở vào hành trình khám phá mầu nhiệm Thiên Chúa và phẩm giá đích thực của con người.
Kinh qua những cuộc tàn phá khốc liệt của lịch sử, nhân loại dần bừng tỉnh để nhận ra một viễn cảnh đáng sợ khi thế giới vắng bóng tôn giáo. Hơn bao giờ hết, thế giới khao khát ánh sáng Tin Mừng để định hướng cho những chao đảo của thời đại.[2] Nhìn vào thực tế mục vụ hôm nay, trước hiện trạng rạn nứt hôn nhân, sự trỗi dậy của chủ nghĩa vô thần, lối sống tục hóa, nạn bạo lực, phá thai cùng các cuộc khủng hoảng dịch bệnh, nhu cầu đồng hành và giúp tín hữu bám rễ vào đức tin càng trở nên cấp thiết.
Từ góc nhìn mục vụ thực hành, người viết mạn phép hệ thống hóa các định nghĩa thần học về đức tin và phân tích những thách đố đương đại. Từ những định nghĩa ấy, người viết xin mở ra những định hướng mục vụ thiết thực, giúp người tín hữu, đặc biệt là giới trẻ và các gia đình, sống trọn vẹn và củng cố niềm tin giữa lòng thế giới đầy biến động.
Một vài khái niệm
Xét dưới góc độ ngôn ngữ, chữ “Đức” (德 - ơn) kết hợp với “Tín” (信 - đón nhận, nghe theo) tạo thành ý niệm về sự đón nhận và vâng phục.[3] Trong văn bản Hy Lạp, danh từ pistis (πιστις) và động từ pisteuo (πιστευω) bộc lộ thái độ tín thác kiên trung, chung thủy[4]. Truyền thống Latinh dùng fides và credere; tiếng Pháp có foi, croire; tiếng Anh có faith, believe.[5] Trong kho tàng tiếng Việt, khái niệm này tỏa bóng qua nhiều sắc thái phong phú như tín thác, trung tín, tin cậy, tín ngưỡng.[6]
Trong thần học mục vụ, đức tin chỉ thực sự có ý nghĩa khi đặt trong cuộc đối thoại với Mặc Khải. Đức tin chính là hành vi con người mở lòng đón nhận lời tự thuật của Thiên Chúa.[7] Công đồng Vaticanô I khẳng định đức tin là một nhân đức siêu nhiên, nhờ ơn Chúa soi sáng mà ta tin thật những gì Ngài mặc khải, không phải vì lý trí tự nhiên đã thấu suốt, nhưng vì uy thế tuyệt đối của một Thiên Chúa không thể lầm lỗi hay lừa dối.[8] Đức tin là lời đáp trả toàn diện của con người trước tiếng gọi của Thiên Chúa qua Thánh Kinh, Thánh Truyền và sự gìn giữ của Huấn quyền.
Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo khắc họa: đức tin là nhân đức đối thần giúp ta tin vào Thiên Chúa và mọi điều Ngài mặc khải.[9] Bằng đức tin, con người tự do phó thác trọn vẹn bản thân cho Ngài. Trong Hiến chế Dei Verbum, Công đồng Vaticanô II ví Mặc Khải như cuộc trò chuyện tâm tình.[10] Thiên Chúa ngỏ lời yêu thương và con người đáp lại bằng “sự vâng phục của đức tin” (Rm 1,5), dâng lên Ngài sự suy phục hoàn toàn của lý trí và ý chí. Nói cách khác, đức tin là nhịp cầu đối thoại mục vụ giữa tiếng gọi ngỏ trao của Chúa và lời thưa xin vâng của con người.
Những thách đố trong hành trình sống Đức Tin ngày nay
Đời sống đức tin của người tín hữu hôm nay đang phải đối diện với muôn vàn áp lực từ môi trường xã hội. Trước hết, thử thách đến từ những cạm bẫy tương đối và thực chứng. Chủ nghĩa tương đối xóa mờ ranh giới chân lý, khiến con người chối bỏ các giá trị luân lý khách quan. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II trong thông điệp Fides et Ratio đã cảnh báo về trạng thái nghi ngờ chân lý khi người ta coi mọi quan điểm đều bình đẳng như nhau.[11] Khi mọi thứ đều tương đối, Thiên Chúa và Tin Mừng bị gạt sang bên lề hoặc chỉ còn là một trong vô số thuyết triết học vô thưởng vô phạt. Cùng lúc đó, chủ nghĩa thực chứng thần thánh hóa phương pháp khoa học, đóng khung nhãn quan con người trong những hiện tượng hữu hình, có thể đo lường. Nó đẩy tôn giáo ra khỏi đời sống và nuôi dưỡng thái độ tự mãn, muốn tự quyết định vận mệnh mà tuyệt đối không cần đến Thiên Chúa.
Tiếp đến, trào lưu Tục hóa và Chủ nghĩa Hưởng thụ hẳn cũng là một chướng ngại lớn trong hành trình sống Đức Tin. Tục hóa ban đầu nhằm tách biệt các sinh hoạt trần thế khỏi ảnh hưởng tôn giáo, nhưng khi biến tướng thành chủ nghĩa duy thế tục, nó mang gương mặt vô thần và bài bác đức tin.[12] Giáo hội lên án lập trường này vì nó cố tình cắt đứt mối dây liên kết giữa tạo vật và Đấng Tạo Hóa. Hệ quả trực tiếp là lối sống thực dụng và hưởng thụ cá nhân. Con người thu hẹp Thiên Chúa vào một góc nhỏ quá khứ, biến các mối tương quan nhân bản thành thứ trao đổi lợi ích, chối bỏ nghĩa vụ xã hội và coi thường các giá trị đạo đức. Hơn nữa, chủ nghĩa vô thần duy vật tôn thờ tiền tài và quyền lực, đảo lộn hệ giá trị luân lý và xô đẩy con người vào sự gian dối. Hiến chế Gaudium et Spes khẳng định Giáo hội không ngừng lên án các chủ thuyết vô thần vì chúng tước đoạt sự cao cả bẩm sinh của con người.[13]
Sống và làm chứng cho Tin Mừng trong thế giới hôm nay
Để giúp người tín hữu đứng vững trước giông bão thời đại, việc thi hành mục vụ cần tập trung củng cố các chiều kích mang tính thực hành. Trước hết, chú trọng đến việc mục vụ Tri thức nhằm tìm kiếm Chân lý và phân định Luân lý. Đức tin là nguồn ánh sáng tỏa ra từ cuộc đời Chúa Giêsu, mang lại sự chắc chắn vượt trên mọi hiểu biết phàm nhân.[14] Giữa một thế giới hỗn loạn thông tin, đức tin giúp người tín hữu nhận biết Thiên Chúa là Chân Lý tuyệt đối, bảo vệ họ khỏi các trào lưu sai lạc. Hơn nữa, đức tin giúp người trẻ và các gia đình biết phân định luân lý theo Thánh Thần, để đưa ra những chọn lựa can đảm và đúng đắn.
Cùng với đó, việc mục vụ cũng cần nhắm đến việc nâng đỡ con người, nhất là trong đau khổ và cám dỗ. Đức tin không biến đau khổ mất đi, nhưng biến nó thành hành vi yêu thương và phó thác. Giữa bệnh tật hay vấp ngã cuộc đời, đức tin nâng đỡ tín hữu bằng xác tín rằng Thiên Chúa vẫn đang gìn giữ thế giới trong tay Ngài. Đức tin cũng thôi thúc con người đi “ngược dòng” trào lưu hưởng thụ, nhận ra chỉ có Chúa mới lấp đầy khao khát tâm hồn, như trải nghiệm của Thánh Augustinô, để trở thành chứng nhân sinh động cho Đấng Phục Sinh. Chính đức tin mở mắt cho ta nhìn thấy hình ảnh Thiên Chúa nơi người lân cận. Đức Thánh Cha Phanxicô khẳng định đức tin mang lại lợi ích to lớn cho xã hội khi tôn vinh giá trị độc đáo của từng cá nhân.[15] Giữa bối cảnh con người bị biến thành công cụ lao động hay nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em vẫn diễn ra, mục vụ đức tin thúc bách Hội Thánh dấn thân bảo vệ phẩm giá bất khả xâm phạm của mọi người. Đức tin hướng lòng con người về các giá trị muôn đời thay vì sa đầm vào những thực tại chóng qua. Theo Thánh Tôma Aquinô, đức tin là khởi đầu của cuộc sống vĩnh cửu ngay từ chốn trần gian.[16] Việc thi hành công việc mục vụ phải luôn khơi dậy ý thức về ơn cứu độ: “Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ” (Mc 16,16), bởi nếu không có đức tin thì không thể sống đẹp lòng Thiên Chúa (x. Dt 11,6).
Sống Đức Tin bằng hành động
Không ai có thể sống mà không mang một niềm tin. Cách riêng, với những người bước theo Đức Kitô, sống đức tin chính là việc phó thác trọn vẹn cuộc đời cho Thiên Chúa. Tuy nhiên, việc sống đức tin không tách rời thực tại nhưng gắn liền với đời sống thường nhật, giúp con người vượt lên lối sống thực dụng để bước vào tương quan tình nghĩa và biết trân trọng nhau như những ngôi vị.
Nơi hành trình mục vụ hôm nay, đức tin phải được minh chứng qua hành động sinh động, vì một đức tin không có hành vi bên ngoài chỉ là đức tin chết. Việc tuân giữ các điều răn chính là thước đo cho thấy ta thực sự biết Thiên Chúa (x. 1 Ga 2,3). Ngày mai sẽ tăm tối nếu ánh sáng đức tin không được thắp lên từ hôm nay. Chính đức tin sẽ làm đẹp lòng Thiên Chúa và biến đời sống người tín hữu thành bài ca hy vọng giữa lòng thế giới.
Đức Hữu
THƯ MỤC THAM KHẢO (BIBLIOGRAPHY)
1. Kinh Thánh, Giáo lý
Kinh Thánh. Bản dịch của nhóm CGKPV. Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2011.
HĐGMVN - UBGLĐT. Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo (1992). Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2010.
2. Văn kiện Huấn quyền
Công đồng Vaticanô I. Hiến chế Tín lý Dei Filius (1870).
Công đồng Vaticanô II. Hiến chế Tín lý về Mặc Khải Dei Verbum (1965).
Công đồng Vaticanô II. Hiến chế Mục Vụ Gaudium et Spes (1965).
Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Thông điệp Fides et Ratio (1998).
Đức Giáo hoàng Bênêdictô XVI. Thông điệp Deus Caritas Est (2006).
Đức Giáo hoàng Bênêdictô XVI. Thông điệp Spe Salvi (2007).
Đức Giáo hoàng Bênêdictô XVI. Tự sắc Porta Fidei (2011).
Đức Giáo hoàng Phanxicô. Thông điệp Lumen Fidei (2013).
3. Sách tham khảo và giáo trình
Bernard Haring. Tự Do Và Trung Thành Trong Đức Kitô. Tập 3. Dịch giả: Lm. Nguyễn Đức Thông, CSsR. Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2012.
Joseph Ratzinger. Đức Tin Kitô Giáo Hôm Qua Và Hôm Nay. Dịch giả: Nguyễn Quốc Lâm. Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2009.
Lm. Cao Chu Vũ, OP. Các Nhân Đức Đối Thần. Tp. HCM: Học Viện Đa Minh, 2018.
Lm. Nguyễn Luật Khoa. Đức Tin Tìm Kiếm Sự Hiểu Biết. Tp. HCM: NXB Phương Đông, 2008.
Lm. Phan Tấn Thành, OP. Đời Sống Tâm Linh XI & XII. Tp. HCM: Học Viện Đa Minh, 2013-2014.
[1] Đức Giáo hoàng Bênêdictô XVI, Tự sắc Porta Fidei (2011), số 2.
[2] Đức Giáo hoàng Bênêdictô XVI, Thông điệp Spe Salvi (2007), số 6.
[3] X. Phan Tấn Thành, Đời Sống Tâm Linh XII (Tp. HCM: Học Viện Đa Minh, 2014), tr. 18.
[4] X. Lm. Nguyễn Luật Khoa, Đức Tin Tìm Kiếm Sự Hiểu Biết (Tp. HCM: NXB Phương Đông, 2008), tr. 25.
[5] Sđd, tr. 27.
[6] X. Bernard Haring, Tự Do Và Trung Thành Trong Đức Kitô, tập 3, dg. Lm. Nguyễn Đức Thông (Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2012), tr. 88.
[7] Công đồng Vaticanô I, Hiến chế Tín lý Dei Filius (1870), chương 3.
[8] Công đồng Vaticanô I, Hiến chế Tín lý Dei Filius (1870), chương 3.
[9] Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo, số 1814.
[10] Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Tín lý Dei Verbum, số 2.
[11] X. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Fides et Ratio (1998), số 5.
[12] X. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Gaudium et Spes, số 36.
[13] Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Gaudium et Spes, số 21.
[14] X. Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo, số 157.
[15] X. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Gaudium et Spes, số 27.
[16] Thánh Tôma Aquinô, Summa Theologiae, II-II, q. 4, a. 1.
Copyright © 2021 Bản quyền thuộc về Giáo Phận Thái Bình
Đang online: 113 | Tổng lượt truy cập: 14,752,095