Người trẻ can đảm sống căn tính môn đệ thừa sai

  • 07/09/2026
  • WYD 2027 có thể được nhìn như một lời mời gọi người trẻ bước vào một cuộc trưởng thành toàn diện của đức tin qua việc gặp Đức Kitô đủ thật để có thể ở lại với Người; ở lại đủ sâu để đời sống được Người biến đổi; và được biến đổi đủ mạnh để can đảm bước ra khỏi chính mình, trở thành chứng nhân của Tin Mừng giữa thế giới hôm nay. Chính trong hành trình ấy, lời “Hãy can đảm! Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16,33) trở thành nền tảng cho một căn tính môn đệ thừa sai có sức trả lời những thách đố cụ thể của người trẻ trong thời đại số.

    Đại hội Giới trẻ Thế giới Seoul 2027 (WYD 2027) diễn ra trong một thời điểm mà đời sống người trẻ đang được định hình mạnh mẽ bởi những biến đổi sâu rộng về văn hóa, công nghệ và các hình thức tương quan. Trí tuệ nhân tạo (AI), mạng xã hội, truyền thông tức thời và những không gian sống đan xen giữa trực tuyến với trực tiếp đang mở ra nhiều khả năng mới cho học tập, sáng tạo và kết nối; đồng thời, chúng cũng đặt người trẻ trước những câu hỏi ngày càng căn bản hơn về căn tính, tự do, sự thật, tương quan và ý nghĩa đời mình. Trong hoàn cảnh ấy, lời Đức Giêsu được chọn làm chủ đề của WYD Seoul 2027: “Hãy can đảm! Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16,33) vang lên như một lời mời gọi người trẻ sống đức tin với sự trưởng thành và tự do của những người biết mình thuộc về Đức Kitô. Lòng can đảm Kitô giáo ở đây được bén rễ trong mầu nhiệm Vượt Qua khi người môn đệ bước vào thực tại với niềm hy vọng vì Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh đã chiến thắng sự dữ, sợ hãi và sự chết (World Youth Day Seoul 2027, n.d.).

    Từ nền tảng ấy, căn tính môn đệ thừa sai trở thành một chìa khóa thích hợp để đọc hành trình chuẩn bị cho WYD 2027. Trong sứ điệp Ngày Giới trẻ Thế giới lần thứ 40, Đức Lêô XIV lấy lời “Anh em cũng làm chứng, vì anh em đã ở với Thầy” (Ga 15,27) làm điểm quy chiếu và người môn đệ được gọi đến với Đức Kitô, ở lại với Người, để Lời Người định hình cách nhìn và cách sống, rồi từ chính tương quan ấy được sai đi giữa thế giới (Leo XIV, 2025).

    Cùng lúc đó, sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội 2026 mở rộng vấn đề sang bình diện nhân học khi Đức Lêô XIV đặt khuôn mặt và tiếng nói con người vào trung tâm của suy tư về truyền thông và AI. Trong một môi trường nơi khuôn mặt con người có thể được tạo dựng, tiếng nói có thể được mô phỏng và tương quan có thể mang dáng vẻ của sự gần gũi do máy móc tạo ra, Giáo hội mời gọi bảo vệ điều thuộc về phẩm giá độc nhất của ngôi vị là khả năng hiện diện, suy tư, tự do, yêu thương và bước vào tương quan chân thật. Chính ở điểm này, việc sống căn tính môn đệ thừa sai gắn chặt với một trách nhiệm rất cụ thể của người trẻ với việc giữ cho nhân tính của mình được trưởng thành trong Đức Kitô, để công nghệ phục vụ con người thay vì làm nghèo khả năng gặp gỡ và phân định của con người (Leo XIV, 2026).

    Theo nghĩa đó, WYD 2027 có thể được nhìn như một lời mời gọi người trẻ bước vào một cuộc trưởng thành toàn diện của đức tin qua việc gặp Đức Kitô đủ thật để có thể ở lại với Người; ở lại đủ sâu để đời sống được Người biến đổi; và được biến đổi đủ mạnh để can đảm bước ra khỏi chính mình, trở thành chứng nhân của Tin Mừng giữa thế giới hôm nay. Chính trong hành trình ấy, lời “Hãy can đảm! Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16,33) trở thành nền tảng cho một căn tính môn đệ thừa sai có sức trả lời những thách đố cụ thể của người trẻ trong thời đại số.

    I. KHÔI PHỤC KHUÔN MẶT CON NGƯỜI TRONG NỀN VĂN HÓA SỐ

    Một trong những thay đổi sâu sắc mà văn hóa số đem lại không nằm ở số lượng thông tin con người có thể tiếp cận, mà ở cách thức con người tiếp nhận thực tại. Trong vài phút, người trẻ có thể đi từ hình ảnh chiến tranh đến một đoạn phim giải trí, từ một bài cầu nguyện đến một nội dung gây tranh cãi. Những thực tại vốn có sức nặng nhân bản và luân lý rất khác nhau ấy dễ dàng được tiếp nhận trong cùng một nhịp độ để rồi khi thói quen này kéo dài, một nguy cơ đáng quan tâm là việc con người dần dần quen với việc lướt qua thực tại trước khi thực tại có đủ thời gian chạm đến mình.

    Chính trong chiều kích ấy, nhận định của Đức Lêô XIV về việc “lướt điện thoại không ngừng”mang ý nghĩa vượt xa một lời khuyên cho việc sử dụng thiết bị. Cụ thể, trong sứ điệp Ngày Giới trẻ Thế giới lần thứ 40, ngài lưu ý rằng những câu hỏi sâu xa của đời người không thể được giải đáp bằng một hình thức tìm kiếm liên tục đang chiếm giữ sự chú ý của người xem nhưng cuối cùng chỉ có thể để lại “tâm trí mệt mỏi và tâm hồn trống rỗng” (Leo XIV, 2025). Theo đó, sự chú ý không đơn thuần là một nguồn lực nhận thức cần được quản lý hiệu quả; xét từ nhãn quan Kitô giáo, đó còn là khả năng để con người hiện diện trước Thiên Chúa, trước chính mình và trước tha nhân. Một người khó có thể thực sự lắng nghe nỗi đau của người khác nếu tâm trí không có đủ sự chú ý mà chỉ có sự lướt qua hời hợt; tương tự, cầu nguyện và phân định cũng khó đạt tới chiều sâu khi con người mất dần khả năng ở lại với một thông điệp Lời Chúa, một câu hỏi hay một khoảng thinh lặng.

    Bởi vậy, vấn đề của văn hóa “lướt” trước hết liên quan đến chất lượng của sự hiện diện. Một khuôn mặt xuất hiện trên màn hình thiết bị điện tử có thể được nhận diện trong vài giây, nhưng để gặp một con người cần nhiều hơn thế: cần thời gian, sự chú ý, khả năng đón nhận và một mức độ sẵn sàng để người ấy tác động đến mình. Sự khác biệt giữa “nhìn thấy”“gặp gỡ” nằm chính ở điểm này. Nhìn thấy có thể chỉ là một hoạt động tri giác; gặp gỡ luôn bao hàm tương quan và trách nhiệm.

    Vì thế, sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội 2026 của Đức Lêô XIV đưa vấn đề này về nền tảng nhân học khi chọn khuôn mặt và tiếng nói làm những điểm chính yếu. Ngài khẳng định rằng “khuôn mặt và tiếng nói là thánh thiêng”, bởi chúng diễn tả căn tính độc nhất của mỗi người và làm cho cuộc gặp giữa những con người trở nên khả hữu (Leo XIV, 2026). Trong truyền thống Kitô giáo, sự độc nhất ấy không xuất phát từ khả năng biểu đạt hay giá trị xã hội của một cá nhân nhưng từ chính phẩm giá của con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa (x.St 1,26-27). Do đó, “khuôn mặt” mang một ý nghĩa sâu hơn diện mạo thể lý vì nó biểu lộ một chủ thể có lịch sử, ký ức, tự do, tính dễ bị tổn thương, khả năng đáp trả và ơn gọi bước vào tương quan.

    Quan niệm này đặc biệt quan trọng khi AI ngày càng có khả năng mô phỏng những biểu hiện trước đây thường gắn với sự hiện diện của con người như hình ảnh, tiếng nói, ngôn ngữ, phản hồi cảm xúc và cả dáng vẻ của một mối quan hệ. Đức Lêô XIV vì thế xác định thách đố căn bản của thời đại này mang tính nhân học (Leo XIV, 2026). Cụ thể, câu hỏi then chốt không còn dừng ở việc một sản phẩm kỹ thuật số có giống con người đến đâu, mà là liệu con người có còn ý thức điều gì làm nên tính độc nhất của một ngôi vị. Một hệ thống có thể mô phỏng sự quan tâm nhưng sự quan tâm của con người gắn với tự do và trách nhiệm; máy móc có thể tạo lời an ủi, còn lòng trắc ẩn của một người đòi khả năng để nỗi đau của người khác chạm đến mình và thúc đẩy mình đáp lại. Chính ở khoảng cách ấy, tính ngôi vị được bộc lộ.

    Nhân học Kitô giáo còn đi xa hơn khi nhìn con người như hữu thể chỉ đạt tới sự trưởng thành trong tương quan và trao hiến. Gaudium et Spes khẳng định rằng con người chỉ thực sự tìm thấy chính mình qua việc chân thành trao ban bản thân (Công đồng Vaticanô II, 1965, số 24). Vì thế, một nền văn hóa khiến con người ngày càng nhìn nhau như hình ảnh để đánh giá, nội dung để tiêu thụ hoặc dữ liệu để dự đoán sẽ tác động trực tiếp đến khả năng sống chiều kích tương quan vốn thuộc về chính phẩm giá con người. Khôi phục khuôn mặt, theo nghĩa này, là khôi phục khả năng nhận ra rằng người trước mặt không thể bị thu gọn vào điều tôi nhìn thấy, điều thuật toán biết về họ hay điều họ trình bày trên mạng.

    Tin Mừng Gioan đem lại một hình ảnh đặc biệt thích hợp để đọc vấn đề ấy. Khi hai môn đệ hỏi Đức Giêsu: “Thầy ở đâu?”, Người trả lời: “Đến mà xem”; họ đến, thấy nơi Người ở và ở lại với Người (Ga 1,38-39). Trình thuật không tách việc “thấy” khỏi việc “ở lại”. Gặp gỡ cần thời gian đủ dài để người kia không còn là một hình ảnh đi ngang qua tầm mắt nhưng trở thành một sự hiện diện có khả năng thay đổi người gặp. Điều này cũng giải thích tại sao đời sống môn đệ luôn bắt đầu từ một cuộc gặp và được nuôi dưỡng bằng sự hiện diện. Người ta không trở thành môn đệ chỉ vì biết thêm thông tin về Đức Kitô; người môn đệ được hình thành khi tương quan với Người từng bước định hướng cách nhìn, cách lựa chọn và cách sống.

    Từ đó, mục vụ giới trẻ trong nền văn hóa số cần quan tâm đến việc đào luyện khả năng hiện diện như một thành phần của tiến trình trưởng thành đức tin. Điều này bao gồm khả năng dừng lại trước một con người, lắng nghe trước khi phản ứng, phân định trước khi chia sẻ, để một nỗi đau có thời gian đánh động lương tâm và dành cho tha nhân quyền được hiện hữu vượt quá mọi nhãn dán hay hồ sơ số. Một người trẻ biết hiện diện như thế không rời bỏ thế giới kỹ thuật số mà họ đang sống trong đó với một chiều sâu nhân bản và Tin Mừng hơn.

    Theo nghĩa ấy, con đường từ việc lướt mạng chuyển qua gặp gỡ chính là bước đầu tiên của căn tính môn đệ thừa sai. Khi người trẻ học lại cách nhìn một khuôn mặt như dấu chỉ của một ngôi vị, họ đồng thời được chuẩn bị để nhận ra khuôn mặt Đức Kitô nơi tha nhân và mở lòng mình ra cho cuộc gặp với chính Người. Từ đây, đời sống môn đệ thừa sai tiến sang chiều sâu kế tiếp là ở lại với Đức Kitô, để cuộc gặp trở thành tình bạn và tình bạn trở thành nguồn mạch của sứ mạng.

    II. TÌNH BẠN VỚI ĐỨC KITÔ VÀ SỰ HÌNH THÀNH CĂN TÍNH MÔN ĐỆ THỪA SAI

    Trong văn hóa số, “theo dõi” đã trở thành một hành vi rất quen thuộc. Người trẻ có thể biết khá rõ một nhân vật qua những gì người ấy đăng tải, thả like, bình luận hay chia sẻ; thậm chí, họ có thể dần tiếp nhận phong cách, quan điểm và lối sống của người mình theo dõi mà chưa từng có một cuộc gặp thực sự. Hình ảnh ấy gợi lên một câu hỏi quan trọng đối với đời sống đức tin là liệu việc biết nhiều về Đức Giêsu đã đủ để trở thành môn đệ của Người chưa? Tin Mừng Gioan cho thấy tư cách môn đệ được hình thành sâu hơn thế. Theo đó, Đức Giêsu gọi những người theo Người là “bạn hữu” (Ga 15,15), và ngay trước cuộc Thương Khó, Người xác nhận: “Anh em cũng làm chứng, vì anh em đã ở với Thầy” (Ga 15,27). “Ở với Thầy” vì thế trở thành chìa khóa để hiểu căn tính của người môn đệ khi một tương quan được nuôi dưỡng bằng sự hiện diện, lắng nghe, tín thác và để cho lời của Đức Kitô định hướng đời sống.

    Đức Lêô XIV đặt chính mối tương quan ấy ở trung tâm sứ điệp Ngày Giới trẻ Thế giới lần thứ 40. Theo ngài, chứng tá Kitô giáo phát sinh từ tình bạn với Chúa Giêsu chịu đóng đinh và phục sinh khi Đức Giêsu gọi các môn đệ là bạn, cho họ biết mầu nhiệm Nước Thiên Chúa, mời họ ở lại với Người, quy tụ họ thành cộng đoàn và sai họ đi loan báo Tin Mừng (Leo XIV, 2025). Điều này xác lập một trật tự có ý nghĩa đặc biệt đối với mục vụ giới trẻ khởi đi từ tương quan với Đức Kitô sẽ hình thành căn tính; từ căn tính được biến đổi làm phát sinh chứng tá; từ chứng tá mở ra sứ mạng thừa sai. Vì vậy, sứ mạng loan báo Tin mừng mang sức thuyết phục từ một đời sống đã được Đức Kitô chạm đến, chứ không chỉ từ khả năng diễn đạt hay hiệu quả truyền thông.

    Từ nền tảng ấy, thuật ngữ “môn đệ thừa sai” diễn tả sự thống nhất giữa việc thuộc về Đức Kitô và việc được Người sai đi. Đức Phanxicô khẳng định trong Evangelii Gaudium rằng nhờ bí tích Thánh Tẩy, mọi thành viên Dân Thiên Chúa đều trở thành môn đệ thừa sai; người Kitô hữu là nhà truyền giáo trong mức độ họ đã gặp được tình yêu cứu độ của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô (Francis, 2013, số 120). Vì thế, căn tính môn đệ không phải một giai đoạn chuẩn bị kéo dài trước khi bước sang sứ mạng nhưng việc gặp Đức Kitô đã hàm chứa một sức thúc đẩy hướng ra ngoài chính mình, như tông đồ Anrê sau khi gặp Chúa đã tìm đến Simon và nói: “Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia” (Ga 1,41), hay người phụ nữ Samari sau cuộc đối thoại với Đức Giêsu đã trở về thành để chia sẻ điều mình vừa khám phá (Ga 4,28-30, 39).

    Điểm này đáng lưu ý trong môi trường số khi một người trẻ có thể theo dõi nhiều trang Công giáo, chia sẻ Kinh Thánh, làm video về đức tin hoặc tham gia tích cực vào các hoạt động của Giáo hội; tất cả đều có giá trị khi được đặt trong một tương quan sống động với Đức Kitô. Tuy nhiên, mức độ tương tác trên mạng chưa thể tự nó nói lên chiều sâu của đời sống đức tin của người môn đệ. Một tiêu chuẩn căn bản hơn nằm ở câu hỏi rằng tương quan với Đức Kitô có đang thay đổi cách tôi suy nghĩ, lựa chọn, sử dụng tự do, đối xử với người khác và sống trách nhiệm của mình hay không? Chính ở đây có thể phân biệt giữa việc “theo dõi” Đức Kitô từ khoảng cách an toàn và việc thực sự bước theo Người bằng cả đời sống.

    Sứ điệp Truyền thông Xã hội 2026 càng làm nổi bật chiều kích này khi Đức Lêô XIV cảnh báo rằng các hệ thống số ngày càng có khả năng mô phỏng sự gần gũi, cảm xúc và thậm chí dáng vẻ của tình bạn. Điều ấy nhắc người trẻ rằng tương quan chân thật luôn gắn với tự do, trách nhiệm, sự hiện diện và khả năng trao ban chính mình (Leo XIV, 2026). Tình bạn với Đức Kitô cũng mang đặc tính ấy rằng Người không tìm kiếm những “người theo dõi” thụ động, nhưng gọi những con người tự do bước vào tương quan với Người và để tương quan ấy sinh hoa trái trong đời sống.

    Hướng tới WYD 2027, vì thế, câu hỏi đáng đặt ra cho người trẻ không dừng ở “Tôi biết gì về Đức Giêsu?” mà tiến đến “Tôi đang sống với Người thế nào?”; và xa hơn nữa: “Qua cách tôi sống, người khác có thể nhận ra điều gì về Đức Kitô?” Do vậy, từ vị trí người theo dõi đến vai trò người môn đệ là hành trình từ việc biết đến gắn bó, từ gắn bó đến biến đổi, rồi từ biến đổi đến chứng tá. Chính vì đã “ở với Thầy”, người trẻ mới có thể trở thành những chứng nhân đáng tin cậy của Người; và chính từ tình bạn ấy, họ được chuẩn bị để bước sang chiều kích kế tiếp của căn tính môn đệ thừa sai là được sai đi với lòng can đảm của Đấng đã thắng thế gian.

    III. SỨ MẠNG CHỨNG TÁ TRONG NIỀM HY VỌNG PHỤC SINH

    Tình bạn với Đức Kitô đạt tới sự trưởng thành khi người môn đệ để cho cuộc gặp với Người mở đời sống mình ra với tha nhân và thế giới. Vì thế, căn tính môn đệ thừa sai luôn mang một chiều kích hướng ngoại khi một người đã “ở với Thầy” được mời gọi trở thành chứng nhân giữa những hoàn cảnh cụ thể của lịch sử. Chính sứ điệp Ngày Giới trẻ Thế giới 2025 đặt hai thực tại ấy trong một mối liên hệ chặt chẽ gồm chứng tá Kitô giáo phát sinh từ tình bạn với Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh, đồng thời được biểu lộ qua trách nhiệm kiến tạo hòa bình trong xã hội (Leo XIV, 2025). Đức tin, theo nghĩa đó, không khép người trẻ vào đời sống đạo đức riêng tư nhưng cuộc gặp với Chúa đưa họ trở lại giữa đời với một cách hiện diện mới.

    Chủ đề của WYD 2027, “Hãy can đảm! Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16,33), đưa chiều kích thừa sai ấy về nguồn mạch Kitô học của nó. Trong bối cảnh Diễn từ Tiệc Ly, Đức Giêsu nói những lời này khi các môn đệ sắp đối diện với thử thách, chia ly và bách hại. Vì thế, “can đảm” không diễn tả một trạng thái tâm lý tích cực hay sự tự tin vào khả năng bản thân nhưng nền tảng của sự can đảm nằm ở lời xác quyết đi kèm: “Thầy đã thắng thế gian.” Chiến thắng ấy dưới ánh sáng Phục Sinh qua việc Đức Kitô đã chiến thắng sợ hãi, tội lỗi và sự chết; từ niềm tin đó phát sinh một lòng can đảm có khả năng bước vào thực tại mà không bị thực tại khuất phục (World Youth Day Seoul 2027, n.d.-a).

    Cách hiểu này đặc biệt thích hợp với người trẻ hôm nay. Lòng can đảm Kitô giáo có thể được thể hiện khi một sinh viên dám tìm kiếm sự thật giữa những thông tin được chọn lọc theo sở thích; khi một người trẻ giữ được khả năng đối thoại với người có quan điểm khác; khi họ từ chối góp thêm lời chế giễu vào một làn sóng công kích trên mạng; hoặc khi một cộng đoàn chọn lắng nghe, hòa giải và chữa lành thay vì củng cố những đường ranh chia rẽ. Những lựa chọn ấy có thể rất bình thường, song chính ở đó chứng tá Tin Mừng trở thành hữu hình vì chân lý được tìm kiếm trong bác ái, sự khác biệt được đón nhận trong tôn trọng, và hòa bình được kiến tạo bằng trách nhiệm.

    Ý nghĩa ấy càng nổi bật khi WYD 2027 được tổ chức tại Seoul. Theo đó, định hướng chính thức của Đại hội nhìn Hàn Quốc như một không gian nơi công nghệ tiên tiến gặp truyền thống, đồng thời là một đất nước vẫn mang dấu vết của chia cắt. Vì vậy, WYD 2027 được đặt trong viễn tượng đối thoại, hòa giải và hòa bình, đặc biệt trong bối cảnh đây là WYD đầu tiên được tổ chức tại một môi trường văn hóa nơi Kitô giáo không phải là tôn giáo của đa số. Người trẻ được mời gọi mang chứng tá của Đức Kitô vào chính những khác biệt văn hóa, tôn giáo và xã hội ấy (World Youth Day Seoul 2027, n.d.-b).

    Lời nguyện chính thức của WYD 2027 còn diễn tả rõ hơn chân dung người môn đệ mà Seoul muốn góp phần đào luyện đó là những người trẻ biết lắng nghe nhau, phân định ý Chúa, sống Tin Mừng của hòa bình, tình yêu và chân lý, đồng thời cùng bước đi với toàn thể Dân Chúa trong một Giáo hội hiệp hành (World Youth Day Seoul 2027, n.d.-c). Ở đây, sứ mạng thừa sai không chỉ được hiểu là nói cho nhiều người biết về Đức Kitô nhưng chính cách người Kitô hữu gặp gỡ, đối thoại, tha thứ và xây dựng hiệp thông đã là một hình thức loan báo Tin Mừng.

    Bởi vậy, WYD 2027 chỉ đạt tới ý nghĩa trọn vẹn khi cuộc hành hương dẫn tới một cuộc sai đi. Người trẻ trở về với gia đình, trường học, nơi làm việc, giáo xứ và cả môi trường số trong tư cách những “người hành hương của hy vọng” và “những nhà truyền giáo can đảm” (World Youth Day Seoul 2027, n.d.-a). Seoul, theo nghĩa ấy, không đơn thuần là nơi quy tụ mà là nơi người môn đệ được củng cố để trở lại giữa đời, đem theo một cách sống mang dấu ấn của Đức Kitô.

    Như thế, ba chiều kích của căn tính môn đệ thừa sai liên kết thành một mạch thống nhất từ việc gặp gỡ khôi phục khả năng nhìn tha nhân như một ngôi vị; tình bạn với Đức Kitô định hình căn tính người môn đệ; còn niềm hy vọng Phục Sinh trao cho họ lòng can đảm để làm chứng, kiến tạo hiệp thông và hòa bình. Câu hỏi hướng tới WYD 2027 vì thế có thể được đặt rất cụ thể rằng sau khi đã ở với Đức Kitô, người trẻ sẽ trở về thế giới với cách hiện diện nào? Tin mừng Ga 16,33 trao câu trả lời từ chính nền tảng của đức tin rằng họ có thể bước đi với lòng can đảm, bởi Đấng sai họ đi cũng chính là Đấng đã “thắng thế gian.”

    KẾT LUẬN

    Hướng tới WYD Seoul 2027, thách đố căn bản của người trẻ không nằm ở việc hiện diện nhiều hay ít trong không gian số, nhưng ở việc giữ được căn tính và tự do của người môn đệ giữa một môi trường có khả năng định hình sự chú ý, tương quan và cách hiểu chính mình. Vì thế, lời “Hãy can đảm! Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16,33) không mời gọi một thái độ đối đầu với công nghệ, nhưng là một đời sống được bén rễ trong chiến thắng Phục Sinh, đủ sâu để sử dụng công nghệ mà không để công nghệ quy định phẩm giá, chân lý hay hướng đi của đời mình.

    Vì thế, ba chiều kích đã trình bày tạo nên một tiến trình thống nhất. Khôi phục khuôn mặt con người là học lại cách hiện diện trước một ngôi vị thay vì chỉ tiêu thụ hình ảnh; tình bạn với Đức Kitô chuyển người trẻ từ biết về Người đến ở lại với Người, để tương quan ấy định hình lựa chọn và lối sống; còn sứ mạng chứng tá là hoa trái của một đời sống đã được biến đổi, được thể hiện trong khả năng tìm kiếm sự thật, xây dựng hòa bình, đối thoại, tha thứ và kiến tạo hiệp thông. Theo đó, căn tính môn đệ thừa sai không được đo bằng mức độ hiển thị tôn giáo hay lượng tương tác, nhưng bằng mức độ Đức Kitô trở nên hữu hình trong cách người trẻ nhìn, lắng nghe, phân định và trao ban chính mình.

    Do đó, mục vụ giới trẻ hướng tới WYD Seoul 2027 cần vượt khỏi mục tiêu chỉ đưa người trẻ đến một sự kiện quốc tế để hình thành nơi họ một cách hiện diện có chiều sâu và một đời sống có khả năng làm chứng sau sự kiện. Khi người trẻ biết mình thuộc về Đức Kitô và được Người sai đi, lòng can đảm không còn là khẩu hiệu, nhưng trở thành một hình thức sống rõ nét với việc can đảm giữ khuôn mặt con người, can đảm ở lại trong sự thật và tình yêu, và can đảm làm chứng cho niềm hy vọng giữa thế giới hôm nay.

    Nhóm Du thuyết Vinh Sơn

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Công đồng Vaticanô II. (1965). Gaudium et spes: Pastoral constitution on the Church in the modern world. The Holy See.

    Francis. (24/11/2013). Evangelii gaudium: Apostolic exhortation on the proclamation of the Gospel in today’s world. The Holy See.

    Kinh Thánh: Ấn bản 2011 (Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ, Trans.). (2011). Nhà xuất bản Tôn Giáo.

    Leo XIV. (07/10/2025). Message of the Holy Father Leo XIV for the 40th World Youth Day [23/11/2025]. The Holy See.

    Leo XIV. (2026, January 24). Preserving human voices and faces: Message for the 60th World Day of Social Communications. The Holy See.

    World Youth Day Seoul 2027. (n.d.-a). Official prayer.

    World Youth Day Seoul 2027. (n.d.-b). Theme.

    World Youth Day Seoul 2027. (n.d.-c). Theme song contest.

    Bài viết liên quan