Không ai biết gì về hoàn cảnh chào đời của Đức Trinh Nữ Maria, vì các sách Tin Mừng không đề cập đến điều này. Tuy nhiên, từ đầu thế kỷ II đã có những suy đoán, và trong một sách ngụy thư mang tên Proto evangelium of James (Ngụy Tin Mừng Giacôbê), chúng ta đọc được câu chuyện về việc Đức Maria được thụ thai bởi ông Gioakim và bà Anna, những người được cho là song thân của Mẹ. Điều này có ảnh hưởng đến việc thiết lập một ngày lễ hay không vẫn chưa rõ ràng. Điều chúng ta biết chắc là ngày lễ này bắt nguồn từ Giáo Hội Đông phương, nơi có một nhà thờ được hiến dâng cho thánh Anna. Nhà thờ này được xây trên nền một ngôi nhà mà người ta tin rằng Đức Maria đã được sinh ra tại đó. Lễ này đã được biết đến vào cuối thế kỷ V và được thể hiện qua các bài thánh ca của Rômanos Melódos, vốn đã phổ biến vào khoảng năm 500.[1]
Lễ này được đưa vào Phụng vụ của Giáo Hội Rôma vào thế kỷ VII, và là một trong bốn lễ kính Đức Mẹ mà Giáo hoàng Sergiô cử hành gắn liền với một cuộc rước kiệu. Điều thực sự được thực hiện trong ngày lễ không phải là đề cập đến ngày sinh của Đức Maria nhiều, cho bằng đề cao thiên chức làm mẹ của Mẹ. Điều ấy hiển hiện rõ trong tất cả các bài đọc Thánh Lễ cùng Kinh Thần Vụ, và được làm sáng tỏ qua lời nguyện nhập lễ: “Lạy Chúa, ngày cứu độ đã ló rạng khi Đức Trinh Nữ sinh hạ Con của Người...”. Một thông điệp tương tự cũng có thể được tìm thấy trong đoạn sách Mikha chương 5 (cũng được dùng trong Mùa Vọng). Bêlem, nơi “nhỏ nhất trong các chi tộc Giuđa”, nay được kêu gọi, từ nơi đó “Đấng trị vì nhà Israen” sẽ xuất hiện và sẽ được sinh ra bởi người “đang chờ để sinh con”. Kinh Thánh Hípri có đoạn sau nói về sự phục hồi Israen: “vị thủ lãnh” sẽ là hòa bình, sẽ mang lại hòa bình. Trong Tân Ước, điều ấy được coi là ám chỉ Đức Kitô, Đấng được sinh ra tại Bêlem (Mt 2,4-6). “Vị thủ lãnh” được sinh ra là Đấng Cứu Thế, và mẹ Người là Maria thành Nadarét. Câu Alleluia ca tụng Đức Maria, Đấng đã đưa “mặt trời công chính” là Chúa Giêsu Kitô vào thế gian. Trong bài Tin Mừng, chúng ta thấy một gia phả, thực ra là gia phả của thánh Giuse, với nhiều tên tuổi đôi khi không thể xác định. Một số người thấy bản văn này khó hiểu. Gia phả rất quan trọng trong văn hóa Hípri, bởi đó là nguyên do thiết lập quyền làm cha hợp pháp với một người con, trong trường hợp này là thánh Giuse. Theo cách diễn tả của tác giả Tin Mừng Luca, thánh Giuse được xem là “cha nuôi của Chúa Giêsu”. Về mặt luật pháp thì thánh Giuse là cha của Chúa Giêsu, như ngôn sứ Mikha nói: “nguồn gốc của Người bắt nguồn từ thuở xa xưa”. Người thuộc dòng dõi Đavít.
Mátthêu thực sự truy nguyên dòng dõi từ Abraham qua Giesê, cha của Đavít, rồi (bỏ qua một số đời) qua các vua nhà Đavít khác cho đến thời lưu đày. Dòng dõi này tiếp tục cho đến thời của Nathan và cuối cùng là đến “cha của Giuse, chồng của bà Maria” – thân mẫu “Chúa Giêsu, Đấng được gọi là Kitô”. Về phương diện phụng vụ, đây là câu quan trọng nhất trong bài đọc. Chúa Giêsu là con của Đức Maria, vì cụm từ “của bà” chỉ áp dụng riêng cho Mẹ Maria.
Nếu bài Tin Mừng viết gia phả được xem là không phù hợp, thì ta có thể đọc bản văn Mátthêu (Mt 1,18-23). Sau khi kể lại câu chuyện về những nghi ngờ và giấc mơ của thánh Giuse (được hóa giải bởi thông điệp từ Thiên Chúa), đoạn văn kết thúc bằng lời tuyên xưng hùng hồn từ sách Isaia: “Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên Người là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Như vậy, ngày lễ Sinh nhật Đức Trinh Nữ Maria là dịp tôn vinh Đức Maria Theotokos, Đấng đã mang Đấng Cứu Thế vào thế gian. Chính vì điều này mà Đức Maria được tôn kính trong ngày lễ này.
Tư tưởng này cũng được tìm thấy trong bản văn đọc trong giờ Kinh Sách, khá bất ngờ khi trong bản văn Sáng Thế (St 3,9-20), ta thấy thuật lại Sự Sa Ngã và hậu quả của nó mà có lẽ không cần phải kể lại ở đây. Về phương diện phụng vụ, câu quan trọng nhất là: “Ta sẽ gây mối thù giữa ngươi và người đàn bà, giữa dòng giống ngươi và dòng giống người ấy. Dòng giống đó sẽ đạp nát đầu ngươi, còn ngươi thì rình cắn gót chân nó”. Đoạn văn ấy tiên báo sự chống đối của Kẻ Thù (quyền lực sự dữ) đối với người phụ nữ và “dòng giống” của người ấy. Trong một tương lai không xác định, “dòng giống” tức là hậu duệ của người phụ nữ, sẽ đạp nát quyền lực của Kẻ Thù. Trong truyền thống Giáo Hội Đông phương và Tây phương, đôi khi đoạn văn này được gọi là Proto-evangelium (Ngụy Tin Mừng), là lời tiên tri về cuộc giao tranh giữa Đấng Cứu Thế (dòng giống người phụ nữ) và Kẻ Thù. Như vậy, điều này tiếp nối câu cuối cùng của Mátthêu: Chúa Giêsu phải được gọi như thế “vì Người sẽ cứu dân khỏi tội lỗi của họ”.
Trong Kinh Sách của ngày lễ, có những bản văn khác cũng truyền tải cùng một thông điệp ấy, chẳng hạn: “Hôm nay, Đức Trinh Nữ Maria đã được sinh ra từ dòng dõi Đavít; nhờ Người, ơn cứu độ thế gian đã được tỏ hiện...”. Cụm từ “sinh ra từ dòng dõi Đavít” dường như được tiếp nối nơi bài đọc ngắn dùng trong Kinh Chiều II trích từ thư thánh Phaolô viết cho tín hữu Rôma (Rm 9,1-5) khi nói về người Do Thái, một dân mà ngài cầu nguyện, để rồi cuối cùng, họ đáp lại Đức Kitô là Đấng Mêsia, Đấng “theo huyết nhục” là một người trong số họ. Đức Kitô thuộc dòng dõi dân tộc cổ xưa của Thiên Chúa, Đấng đã chọn họ làm con cái, Đấng mà họ đã từng nghiệm thấy sự hiện diện trên núi Sinai và trong Đền Thờ. Những lời hứa (về một Đấng Mêsia) đã được ban cho họ qua bao thế kỷ giờ đây đã được thành toàn. Hơn nữa, trong sự xuất hiện của Đấng Mêsia, Đấng là giao ước mới, đền thờ mới, hiện diện với dân mới của Người và sẽ còn hiện diện cho đến tận thế. Sự hiện diện của Chúa giờ đây được thể hiện cách hữu hình qua việc Người nhập thể trong cung lòng Đức Trinh Nữ Maria, một sự hiện diện được kéo dài trong Phụng vụ Bí tích của Giáo Hội. Nhờ đó, Chúa Giêsu có thể hiện diện với chúng ta cách thực sự như chúng ta hiện diện với Người, theo cách thức chưa từng được biết đến trước khi Người giáng thế.
Phần lớn ý nghĩa của ngày lễ được tóm tắt trong bài giảng của thánh Anrê thành Crêta (+740) được đọc trong giờ Kinh Sách. Trước hết, thánh nhân nói về sự hòa hợp giữa lề luật và tình yêu: Đức Kitô biến chữ viết thành tinh thần và đặt lề luật dưới tình yêu. Tiếp theo, ngài nói tóm tắt những ân huệ mà Đức Kitô ban cho chúng ta, là “sự mặc khải Mầu nhiệm” mà nhờ đó thiên nhiên được đổi mới, “Thiên Chúa và con người, cùng sự thần hóa bản tính nhân loại được Thiên Chúa đảm nhận”. Tuy nhiên, một cuộc viếng thăm vĩ đại và vinh quang như thế cần một khởi điểm: “Ngày lễ hiện tại là minh chứng cho điều ấy: khởi điểm là sự ra đời của Mẹ Thiên Chúa, và hành động kết thúc là sự kết hợp được định sẵn giữa Ngôi Lời và bản tính nhân loại. Một trinh nữ giờ đây được sinh ra, được bú mớm, được uốn nắn và được chuẩn bị để trở thành Mẹ Thiên Chúa, Đấng là Vua của muôn đời”.[2]
Đây là mầu nhiệm chúng ta cử hành mang lại lợi ích kép: “chúng ta sẽ được giải thoát khỏi ách nô lệ của lề luật để tiến tới chân lý, và ân sủng đem lại tự do thay cho chữ viết của lề luật (x. 2Cr 3,17). Bóng tối của hiện thực nhường chỗ cho sự hiện diện của chân lý: Ngày lễ hôm nay đứng trên ranh giới giữa những điều này, kết nối chúng ta với chân lý thay vì những dấu chỉ và hình bóng (của Cựu Ước) và đem lại cái mới thay cho cái cũ”.
Thánh Anrê thành Crêta kết thúc bằng lời khích lệ hãy vui mừng trong ngày lễ này: “Vì hôm nay một đền thờ được xây dựng cho Đấng Tạo Hóa. Thụ tạo (Đức Maria) được chuẩn bị như nơi ở thần linh của Đấng Tạo Hóa” (Sách Kinh Phụng Vụ, III, tr. 237-8*).
Chính bằng cách này mà một tác giả của Giáo Hội Đông phương có thể dạy chúng ta ý nghĩa của ngày lễ mà không cần sử dụng nội dung liên quan đến song thân của Đức Maria, mặc dù ông Gioakim và bà Anna thường được nhắc đến trong Kinh Thần Vụ nghi lễ Byzantine của ngày lễ này. Đối với sự ra đời của Đức Maria, thánh Anrê thành Crêta cũng nhìn thấy khởi đầu sự nhập thể của Chúa Giêsu Kitô chúng ta, Đấng là Con Thiên Chúa, và Đức Maria có thể được gọi một cách chính xác là Theotokos.
Đức Hữu chuyển ngữ từ tập sách OUR LADY OF THE LITURGY của J.D.Crichton
Copyright © 2021 Bản quyền thuộc về Giáo Phận Thái Bình
Đang online: 109 | Tổng lượt truy cập: 14,702,806