“Này, Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói. Vậy anh em phải khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu” (Mt 10, 16).
Niềm mong đợi
Năm thứ hai giảng dạy kể từ khi chịu chức, tôi giữ một chức vụ không mấy ai muốn làm ở trường trung học đó là chủ nhiệm phân khoa thần học. Không ai khác chịu nhận nhiệm vụ này vì họ biết rằng tôi mới chịu chức và còn tràn đầy nhiệt huyết. Trong một cuộc họp hội đồng phân khoa, tôi đã bức xúc mà nói rằng: “Nếu bây giờ tôi không thể làm cho học sinh lớp 12 có thể đối diện với những với những vấn nạn liên quan đến Thiên Chúa, sang năm chúng sẽ bị mấy ông giáo sư vô thần quay như bánh quy xoắn khi vào đại học!”. Lúc ấy, vị chủ nhiệm khoa Sử là Art Inguaggiato quay sang nhìn tôi với vẻ mặt khá ngạc nhiên rồi nói: “Anh là cái thá gì? Anh là Chúa hay sao vậy?” Thế là tôi bực mình bỏ đi và thầm nghĩ “Con người kiêu ngạo ấy... rốt cuộc là...?” Rồi bỗng như có tiếng sét ngang tai khiến tôi nhận ra: “Chúa ơi, ông ta nói đúng quá!” Mặc dù điều ông ta vừa nói làm giảm lòng nhiệt huyết truyền giáo của tôi, nhưng đó là sự thật. “Phaolô trồng, Apôlô tưới, nhưng Chúa mới làm cho lớn lên.” Ban đầu, khi dạy thần học, thậm chí ta chẳng phải là kẻ gieo giống. Trước hết, công việc chính của ta (mà thường bị bỏ quên) cần làm là vun trồng. Nếu không làm điều ấy, hạt giống ta gieo sẽ rơi trên nền đá. Trước khi nói với họ về Đức Kitô, ta phải giúp họ sống như những con người đúng nghĩa. Cả khi ấy, chúng ta cũng chỉ là những người nối kết khi nỗ lực làm cho Thiên Chúa và tôn giáo trở nên đủ hấp dẫn với sinh viên hầu giúp họ phân định trong việc đón nhận, thậm chí tự nguyện chọn Thiên Chúa và tôn giáo làm của riêng mình. Thần học, đức tin và tôn giáo đều là những ân ban nhưng con người có thể khước từ. Tuy nhiên, một khi Chúa chọn thì Người có thể quyến rũ con người bằng mọi cách và vào bất cứ lúc nào.
Từ cuộc họp hội đồng phân khoa ấy, tôi đã thực tế hơn nhiều. Tôi không còn mơ chuyện mỗi năm mình sẽ đào tạo ra một trăm năm mươi tông đồ nhiệt thành. Rốt cuộc, Đức Giêsu cũng đâu tránh được cảnh ‘thất bại’ của một người thầy: học trò bán Thầy, người thân tín nhất thì ba lần chối Thầy chỉ trong một đêm; còn tất cả đều “bỏ của chạy lấy người” ngay lần đầu Chúa Giêsu gặp phải sự chống đối quyết liệt. Mỗi ngày có hai mươi tư giờ và sau ba năm được cùng sống và được Thầy dạy dỗ, trải qua nỗi đau tan nát tâm can của Thập giá cũng như những kinh nghiệm bất ngờ về sự Phục sinh rồi sau đó là một tháng chỉ dạy, vậy mà cuối cùng các ông vẫn thắc mắc: “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Israel không?” Chắc hẳn lúc ấy Đức Giêsu đã phải thốt lên: “Tiêu chuẩn chết tiệt đó đâu ra vậy?” khi họ vẫn khao khát được ngồi lên những ngai vàng.
Tôi không nghi kị một vài vị tông đồ với ánh mắt căm phẫn; cũng chẳng ngần ngại một vài chức vụ được giao. Tuy nhiên, tôi không trông mong nơi điều ấy. Tôi không mấy kỳ vọng vào việc có nhiều người quan tâm đến tôn giáo. Nhưng thực lòng tôi mong họ ít là bớt bớt thờ ơ hơn một chút, bớt đi cái vẻ tự mãn chắc mẩm rằng mọi thứ họ nghe trên ti vi, qua máy cát-xét nhỏ hay từ hệ thống âm thanh nổi đều là Kinh Thánh thực thụ. Tôi hài lòng nếu mỗi lớp có một vài học sinh nghi ngờ tôi trong việc thủ đắc và nắm giữ những điều có giá trị: thứ mà chúng đang muốn sở hữu.
Dù nhỏ bé thôi, nhưng tôi đã tạo ra sự khác biệt khi mỗi năm bản thân đều nhận ra điều mình mong đợi trên là đúng. Chẳng hạn như hôm qua, một cậu bé vốn luôn miệng xác quyết rằng trở thành người đồng tính là kết quả của sự chọn lựa, nhưng khi tôi nói điều đó không đúng sự thật thì cậu ta đã gật đầu đồng ý. Một câu hỏi khảo sát tôi đưa ra vào đầu năm học (không phải đưa ra để lấy điểm mà chỉ để khuấy động trước giờ học): “Trong một cuộc đua, như ở trại hè chẳng hạn, người khuyết tật nên được cho chạy trước một đoạn không?”(Câu hỏi được đặt ra cách khéo léo trước khi chúng tôi bàn về chuyện phân biệt chủng tộc, giới tính...). Trong lớp chỉ có hai em trả lời “có” còn lại phản đối dữ dội, viện đủ lý do: “Những người ấy sẽ nghĩ đời màu hồng hoặc là họ sẽ cảm thấy bị xem thường;...” Tuy vậy, cũng ngay ngày hôm qua, khi bàn đến nạn phân biệt chủng tộc, tôi đặt lại câu hỏi và khoảng mười em mỗi lớp trả lời “có”. Không hẳn là đám đông ùa đến để nghe Billy Graham giảng về Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, nhưng như Tybalt nói: “Thế cũng được rồi.”
Với một người không thuộc ngành thần học thì một vài thành tựu lớn nhất của tôi hẳn là chẳng có nghĩa lý chi. Một học sinh xuất sắc lớp 12 luôn vui vẻ chất vấn mỗi khi tôi nói con người không phải thú vật; hay quan hệ xác thịt không chỉ là tiếp xúc thể xác mà còn là giao cảm tâm lý, và nếu thiếu điều đó thì hai người sẽ hạ thấp nhau. Trước mỗi tình huống ấy Jimmy luôn nói: Thôi nào! Nếu em học sinh ấy cũng muốn như thầy vừa nói, thì có gì sai?
Và tôi luôn miệng đáp:
Nếu bạn ấy quỳ xuống van xin làm nô lệ cho em [Jimmy là người da màu], để em trói bạn ấy vào cái cày và đánh đập, như thế có đạo đức không?
Tranh luận tiếp tục tựa như kịch bản được viết sẵn. Nhưng vào buổi học cuối, Jimmy đến bàn giáo viên, vòng tay qua cổ tôi và nói:
Thầy Pops ơi, chúng em đều biết điều thầy nói là đúng. Nhưng em chưa thể bỏ qua được.
Như chàng trai giàu có trong Kinh Thánh, ấy chính là mẫu gương Jimmy có thể đạt được tại thời điểm ấy. Nhưng đó là một bước tiến dài. Trong vai trò là một giáo viên, tôi nhận Annie Sullivan là thánh bổn mạng. Biết bao tuần lễ Annie Sullivan vẽ những ký hiệu trên đôi bàn tay của Helen Keller, một người điếc và mù, trong khi cô bé hoàn toàn không hiểu đó là gì. Không chỉ thế, Helen còn đẩy tay Annie ra nữa! Thế nhưng Annie vẫn giữ vững niềm tin vào Helen và bản thân mình. Annie biết rằng một ngày nào đó, khi gặp những chất vấn hoặc gì đó không bình thường, Helen sẽ thốt lên:
“Ôi trời ơi! Mình không cô đơn!”
Hẳn là Tôi và Jimmy cũng vậy. Chúng ta không thể trao ban niềm tin nếu chính mình chưa có.
Thần học - Niềm tin - Tôn giáo
Phải nhanh chóng dẹp bỏ cụm từ “lớp học tôn giáo” và “giáo dục tôn giáo”. Chúng là những từ ngữ sai lầm.
Thần học là điều bạn biết về những vấn đề liên quan đến Chúa; niềm tin là điều mà bạn đón nhận từ những gì bạn biết; còn tôn giáo là điều bạn làm dựa trên những gì bạn chấp nhận. Chúng hoàn toàn độc lập và khác nhau.
Thần học là điều bạn biết. Trong khi những người vô thần có thể đạt điểm A trong thần học thì các vị thánh từng rớt các môn học về thần học. Voltaire biết về Công giáo hơn Jeanne d'Arc rất nhiều. Nhưng nếu điều ngược lại xảy ra thì có lẽ Jeanne d'Arc đã ở nhà.
Niềm tin ( hay đức tin) là điều bạn chấp nhận từ những gì bạn biết. Chẳng hạn như tôi có thể biết về việc Giáo hội nói rằng sử dụng các biện pháp tránh thai nhân tạo là tội, nhưng cá nhân tôi có thể không chấp nhận điều đó là đúng khi điều ấy được nhìn nhận với tất cả những kiến thức tôi biết về sinh học, về con người và về Chúa.
Tôn giáo là điều bạn làm dựa trên những gì bạn chấp nhận. Xét một cách khách quan, tôi có thể chấp nhận việc Giáo hội đúng khi nói rằng phá thai là giết người có chủ ý. Nhưng khi tôi, con gái tôi hay bạn gái tôi mang thai, tôi có thể làm điều nghịch với những gì mà tôi thực sự tin. Tôi có thể thành thật tin rằng có một Đấng đã ban cho tôi sự sống, nhưng tôi có thể ích kỉ nhận món quà ấy mà không hề nói lời cảm ơn.
Thần học, niềm tin và tôn giáo không phải là một.
Điều duy nhất chúng ta có thể dạy (kiểm tra hay chấm điểm) là thần học. Chúng ta không thể dạy về niềm tin và tôn giáo mà chỉ có thể “rao truyền” hay cố gắng làm cho niềm tin và tôn giáo trở nên hấp dẫn với đối tượng này. Bạn không thể trừ điểm học sinh nếu chúng đưa ra ý kiến trước yêu cầu của bạn. Nếu tôi hỏi: “Em nghĩ gì về thầy?” và sinh viên viết: “Em nghĩ thầy là một kẻ khoe khoang kiêu ngạo,” thì sinh viên ấy vẫn được điểm đầy đủ bởi họ đã trả lời câu hỏi của tôi. Nhưng nếu tôi hỏi vì sao em nghĩ thế, thì đó lại là chuyện khác. Tôi không thể chấm điểm trên ý kiến, chỉ có thể nhận xét về nó, và thường, giống như chương trình đố vui “Jeopardy”, tôi phải viết nhận xét của mình dưới hình thức một câu hỏi. Còn điều duy nhất khiến ai đó trượt môn tôn giáo’ chính là xuống hỏa ngục.
P.T. Barnum và Hành Trình Huấn Gíao
Không giống với bất kỳ ngành học nào khác như lịch sử, toán, văn … chỉ đơn thuần truyền đạt và mở rộng chân trời tri thức, chúng tôi thực hiện công việc huấn giáo bằng cách thay đổi thái độ cơ bản về những điều quan trọng trong cuộc sống mà tác động đến hành vi của sinh viên, ít là cố gắng khơi dậy lòng đón nhận. Các giáo viên khác có thể hài lòng nếu sinh viên chỉ nhớ kiến thức cho đến kỳ thi, và biết đâu sau này thấy có ích phần nào. Nhưng chúng tôi thì khác: chúng tôi đang cố thuyết phục họ thấm được những điều mình dạy. Tắt một lời, mục tiêu của chúng tôi là hoán cải.
Sai lầm tai hại nhất mà bất kỳ giáo lý viên nào cũng có thể mắc phải là cho rằng học sinh của mình đã được hoán cải, chỉ trừ một số ít chưa làm được điều ấy. Chúng là những đứa ngoan ngoãn, thân thiện, dễ thương, và đúng là đã được rửa tội, nhưng chưa từng trải qua tiến trình hoán cải thực sự, một tiến trình khiến tâm hồn như được đốt cháy. Chừng nào giáo lý viên còn ở bên thì chúng khó có khả năng hoán cải. Điều khả thi nhất mà giáo lý viên có thể hy vọng nơi nhiều sinh viên như Helen Keller đó là khơi dậy sự hoài nghi rằng thực tại này có lẽ rộng lớn hơn rất nhiều so với điều chúng từng tưởng. Phần hoán cải thật sự sẽ chỉ được khơi dậy bởi một biến cố nào đó sau này trong đời, và tiến trình ấy sẽ diễn ra giữa người học và Thiên Chúa. Hãy nhớ giáo lý viên là những người nối kết mà thôi.
Để làm được điều đó, chúng ta cần học hỏi nhiều hơn từ Phineas T. Barnum và các bậc thầy truyền thông ở đại lộ Madison Avenue, New York, hơn là từ Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo. (Nếu đó là phạm thượng, tôi sẵn sàng đón nhận hình phạt thế quyền). Khác với các chỉ dẫn từ Giáo hội công giáo, giới tiếp thị đổ hàng tỷ đô và dành vô số giờ để khơi dậy nhu cầu trong lòng khách hàng tiềm năng trước khi chào bán sản phẩm.
Điều này đòi hỏi những sự biện phân nơi các giáo lý viên còn hờ hững khi chỉ tập trung vào kết quả mình đạt được. “Khơi dậy nhu cầu” nghĩa là phải hiểu rất rõ vị trí của đối tượng qua khả năng tiếp thu và đặc biệt là sự phản kháng của họ. Do đó, hãy thường xuyên gửi cho học sinh bảng khảo sát và bảng câu hỏi và phải thật lưu tâm đến nó dù cho bạn không chấm điểm (để lúc ấy học sinh sẽ đưa ra ra câu trả lời “đúng ý bạn” với mục đích lấy điểm dù cho suy nghĩ của chúng không phải thế). Hãy bắt đầu mỗi buổi học với mười phát biểu phản ánh nội dung bài học: “Hầu hết người nhận phúc lợi xã hội đều gian lận” xem sinh viên có đồng ý hay không. Đếm số cánh tay giơ lên, ghi lại và lưu giữ để so sánh qua các năm. Nhưng đừng sửa những quan điểm “sai lầm” bởi đó không là mục tiêu của buổi học vì đây chỉ là “phép thử”.
Việc "rao bán" đức tin thì không chỉ đòi hỏi ta điều chỉnh nội dung sứ điệp, mà còn phải thay đổi cả cách thức truyền đạt, sao cho phù hợp với não trạng của người nghe. Điều đó cũng có nghĩa là ta phải tiền hô cho họ, một tiến trình mà ai làm trong nghề cũng nói đến, nhưng rồi vẫn đòi sách giáo khoa ngay từ trang đầu đã ‘la lên rằng: Công giáo đây!’ Làm như thế là bất khả thi vì cả hai việc ấy không thể diễn ra cùng lúc được.
Phương pháp dạy giáo lý này đi ngược lại mọi nguyên tắc về rao bán, đó là chưa nói đến đường lối của Chúa Giêsu. Qua bao thế hệ qua, việc dạy giáo lý của chúng ta cố gắng biến đổi họ thành tín hữu Công giáo trước khi họ là Kitô hữu, biến họ thành Kitô hữu trước khi học xác quyết sự hiện hữu của Thượng đế và giáo lý viên giúp họ thành tín hữu trước cả khi dạy họ phương pháp suy tư. Điều này hoàn toàn đảo ngược tâm lý của việc hoán cải. Trước đây, chúng ta bắt tay ngay vào việc nhồi nhét mọi điều: Filioque, sinh bởi bởi Trinh nữ, tính bất khả ngộ, v.v..toàn là những tín điều gây chia rẽ giữa các Kitô hữu -trước cả khi cho họ biết những gì mà mọi Kitô hữu cùng tin. Chúng ta ngầm hiểu rằng nếu họ xuất thân từ gia đình Công giáo thì ắt họ phải tin Chúa. Hầu hết học sinh có vẻ “chấp nhận” sự hiện hữu của một “Thượng đế nào đó”. Tuy nhiên, ngoài việc nhận ra tầm quan trọng để thi cử, phần lớn họ chỉ có khái niệm mơ hồ hay một vài mối tương quan theo nghĩa nào đó với vị Thượng đế ấy. Rất ít người thực sự nghĩ Thượng đế hay các vấn đề về Người thực sự quan trọng. Nhưng chúng ta không chỉ muốn họ làm bài thi. Chúng ta hy vọng được thấy một cuộc hoán cải thật sự.
Barnum không chỉ hiểu và tạo ra nhu cầu trước khi chào bán sản phẩm, mà còn dành nhiều thời gian chỉ để gây sự chú ý. Vì vậy, chúng ta phải dành ít là một khoảng thời gian đủ hầu gây tò mò, khó chịu hay bối rối; từ đó đánh thức sự tập trung và tham gia vào chủ đề mà chúng ta đang dành giờ để truyền đạt kiến thức. (Chắc chắn, những ai học trên lớp bằng cách tự đọc sách hẳn sẽ không bền. Đó là việc họ nên tự làm vào thời gian riêng.)
Gợi ý hữu ích: Vài năm trước, một cuốn sách mang tên “Giảng dạy như Đức Giêsu”, nhưng nội dung lại trình bày về những điều Chúa Giêsu không dạy. Khi giảng dạy, Chúa Giêsu không tập trung vào giáo điều cũng như chẳng hề hướng dẫn thần học. Người luôn bắt đầu bằng một câu chuyện. Tin tôi đi, nếu truyền hình không để lại gì khác, thì ít nhất cũng để lại cho chúng ta khát khao được nghe câu chuyện. Đừng bao giờ đi thẳng vào vấn đề mà hãy khởi sự từ xa để đánh lạc hướng độc giả. Khi được hỏi ai là người lớn nhất trong vương quốc thì Chúa Giêsu đã làm gì? Người đặt một đứa trẻ trước mặt họ. Điều ấy gây bối rối nhưng hưng phấn và khơi gợi tò mò. Có như vậy thì may ra họ mới sẵn sàng nghe thông điệp của Người. Đúng là trước khi gieo hạt thì cày xới đất là điều không thể thiếu.
Một kỹ năng khác mà giới quảng cáo ở đại lộ Madison rất giỏi là khả năng lặp đi lặp lại. Một quảng cáo thường được phát bao nhiêu lần trong ngày? “Chẳng ai thực sự lắng nghe cả.” Thế nhưng bạn vẫn có thể lặp lại từng lời từng chữ, và khi vào hiệu thuốc bạn vẫn với tay lấy Bayer, mặt hàng đắt hơn hàng generic cả đô dù theo quy định của chính phủ chúng đồng giá. Bạn không muốn nói đến mỗi ngày, nhưng đừng ngại nhắc lại câu chuyện ấy. (Hãy nghĩ đến Jimmy và chuyện quan hệ bừa bãi). Biết đâu lần này thêm một người nữa sẽ thực sự nghe thấy bạn lần đầu tiên.
Đối với một thính giả đầy hoài nghi thì việc chỉ nói “đó là điều răn” hay “Giáo hội dạy thế” là không đủ. Bạn phải chứng minh luận điểm của mình bằng lý lẽ mà không mấy cuốn giáo trình làm được. Thường thì mấy cuốn sách trích dẫn Công đồng Vatican II, nhưng với những học sinh chẳng mảy may quan tâm đến Vatican II thì điều ấy khác nào viện dẫn thẩm quyền của Tiên Răng. Từ hệ quả ấy, bạn phải tự mình suy luận từng bài học cụ thể thích ứng với mọi lãnh vực, không riêng gì thần học, chẳng hạn như tâm lý học, xã hội học, hóa học, vật lý, cổ sinh vật học, văn học. Nền giáo dục khai phóng của bạn sắp thành toàn!
Cuối cùng, niềm xác tín của học sinh sẽ phụ thuộc rất nhiều vào sự xác tín của bạn. Bạn phải tự thấm nhuần tất cả những gì bạn tuyên bố cách xác tín về đạo đức, bí tích, Giáo hội. Nếu bạn chỉ vào lớp để “dạy cho xong” như một nhân viên bán hàng rao bán thứ hàng hóa mà bản thân họ không tâm huyết và không hiểu tường tận đến tận gốc rễ, bạn sẽ thất bại. Clare Boothe Luce từng nói khi bà cân nhắc việc hoán cải (và đó chính là công việc của chúng ta), bà nhìn những người Công giáo, đặc biệt là chủng sinh, và tự nhủ: “Các anh nói mình có chân lý. Mà chân lý phải giải thoát và mang lại niềm vui cho các anh. Vậy tôi có thấy sự tự do của anh không? Tôi có cảm nhận được niềm vui của anh không?” Qủa là một câu hỏi thật sắc sảo.
Thấu Hiểu
“Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá.”
Mt 7, 25
Một ngày nọ, khi mới bắt đầu giảng dạy, một bạn sinh viên đã cho tôi bài học làm thay đổi toàn bộ nhận thức về nhiệm vụ của một giảng viên thần học và người dẫn dắt đức tin tôn giáo. Kỳ lạ thay, chuyện xảy ra trong lớp Anh ngữ căn bản khi chúng tôi đang phân tích bài thơ “Trăng Gió” của Amy Lowell.
Trăng thu vằng vặc giữa trời
Ao thu gợn sóng cá soi ly kỳ
Vảy rồng tỏa rạng sáng chi
Khi trăng chiếu tỏa ao thu êm đềm
-Amy Lowell (1874-1925)
Tôi giải thích rằng, dù có phép ẩn dụ so sánh
ánh sáng phản chiếu từ gợn sóng với vảy rồng và nhân cách hóa mặt trăng; thì đây chỉ là bức tranh đơn giản, không phải là cuộc khám phá sâu sắc về trải nghiệm con người. Một cánh tay giơ lên và nói:
Em có cách hiểu khác.
Tôi liền trả lời:
Không sao, miễn là có bằng chứng từ bài thơ mang lại. Một bài thơ không phải bài kiểm tra Rorschach[1].
Sinh viên đáp:
Em nghĩ đây nói về chuyến bay U-2 qua Trung Quốc.
Tôi há hốc mồm:
Bằng chứng đâu em?
Sinh viên trả lời:
Ngay đây ạ:‘vảy rồng.’
Tôi đáp lại:
Ôi thật khó nhằn. Em chỉ lấy hai từ rồi phịa ra bài thơ riêng ư.
Sinh viên liền đáp:
Đó là nhận định của thầy.
Tôi mỉa mai:
Sao không phải chuyến bay U-2 qua nước Anh trung cổ, chúng cũng có rồng mà?
Sinh viên trả lời:
Đó là ý kiến của thầy.
Răng tôi nghiến lại, nhưng tôi biết đã bắt bài được em. Tôi nói lớn tiếng:
Nhìn cuối bài thơ kìa! Trăng đã lặn! Làm gì có U-2! Làm gì có Trung Quốc!
Nhưng mặt em ta đắc ý như tượng đá:
Đó là ý kiến của thầy.
Đúng là không thể tranh luận thái quá về điều này: NHIỆM VỤ khó nhất của một giáo viên không chỉ truyền đạt sự thật mà còn chuyển hóa quan điểm khi đối mặt với những phản biện kiểu: “QUAN ĐIỂM CỦA TÔI CŨNG HAY NHƯ CỦA BAO NGƯỜI!” Không, quan điểm của bạn chỉ hay chỉ khi nhờ dữ kiện hỗ trợ. Quan điểm của bạn về vật lý hẳn không thể bằng Albert Einstein, quan điểm của bạn về phim không thể bằng một diễn viên hay đạo diễn kỳ cựu. Ngay cả giảng viên mới cũng gặp lời chất vấn:
Thầy muốn biết chúng em thực sự nghĩ gì hay muốn chúng em chỉ nghe theo quan điểm của thầy?
Một phần của thái độ chống đối nơi sinh viên bắt nguồn từ cảm giác khó chịu mơ hồ rằng dù giáo viên có mới đến đâu, thì giáo viên vẫn biết nhiều hơn họ. Họ không muốn bị ‘thua kém’ chỉ vì bạn đọc nhiều sách hơn, nhất là những đứa cho rằng ‘thông minh đường phố’ mới là thứ thông minh thật sự. Hãy đối diện điều đó, lần nào cũng vậy. Thứ nhất, “Nếu chúng ta gặp một dòng nơi Kinh thánh hay vở kịch ‘Hamlet’[2] và có bất đồng về cách hiểu thì tôi sẽ hiểu đúng chín trên mười lần dù không phải lúc nào cũng vậy, nhưng phần lớn là thế.” Học sinh có vẻ khó chịu và hoài nghi. “Lý do là tôi đã nghiên cứu kỹ hơn, đọc nhiều cách diễn giải của người khác, vì thế mà suy ngẫm và kết luận sẽ tương đối đáng tin cậy.” Vẫn là thái độ khó chịu và hoài nghi của học sinh. “Nhưng nếu tôi đến một buổi khiêu vũ (trò chơi hoặc bất cứ điều gì bạn biết ít hơn họ) của bạn và nhận định âm nhạc nghe như nồi hơi nổ tung trong khi bạn nói ban nhạc rất hay, thì chín trên mười lần bạn sẽ đúng.” Nụ cười tự mãn đồng tình. “Bởi bạn hiểu về nó hơn tôi.” Phần nào đó, một quan điểm thực sự là của riêng khi được thể hiện qua xác tín rằng: “Ý kiến của tôi cũng có thế giá như của bất kỳ ai”. Ngoại trừ một số ít lĩnh vực mà họ có nhiều kinh nghiệm hơn (chẳng hạn như thể thao hay nhạc rock) thì cha mẹ, truyền thông hay bạn bè định hình nên quan điểm của họ. Quan điểm ấy chắc chắn là “của họ”, nhưng ngoài lời đồn đại thì đó chỉ là những quan điểm thiếu căn cứ, không có bất kỳ chứng từ xác thực nào và do đó không đáng tốn công tranh luận.
Theo kinh nghiệm của tôi, trong mỗi lớp khoảng ba mươi học sinh, đáng buồn là gần như chắc chắn sẽ có ba đến bốn, thậm chí là năm em sinh viên kiên quyết không chịu chấp nhận ngay cả những luận điểm được chứng minh tỉ mỉ nhất. Phần lớn chúng không phải học sinh thông minh nhất hay kém cỏi nhất, nhưng ngay cả khi không hiểu biết, những học sinh này luôn tìm cách để chứng minh (thường là để chống lại nỗi mặc cảm sâu kín trong lòng) rằng mình không thuộc nhóm chậm hiểu và rằng mình thuộc nhóm biết nhiều. (Nếu những học sinh này vẫn ngoan cố, tốt hơn hết là nên gặp riêng, nơi ấy chúng không cần phải gồng mình để giữ danh dự trước mọi người.)
Phần nào đó, khó khăn đơn giản nằm ở là chúng không muốn thua cuộc và có thể thách thức lại bằng câu hỏi: “Em đã từng tranh luận với cha mẹ và chợt nhận ra ‘Trời ơi! Họ nói đúng’ nhưng vẫn tiếp tục cãi chứ? Tại sao vậy? Vì sự thật không phải là điều em kiếm tìm, điều em tìm kiếm là chiến thắng, hay ít là không muốn bị coi là thua cuộc. Nhưng càng tranh cãi mà không có bằng chứng, em càng tự biến mình thành gã hề.”
Thực chất sự ngoan cố đó cũng thường bắt nguồn từ việc giáo viên đang đặt vấn nghi về độ tin cậy của chính cha mẹ học sinh, những người đã kiên quyết bảo vệ các “chân lý” như người đồng tính tự do lựa chọn xu hướng hay đa số người nhận trợ cấp xã hội đều lừa đảo. Thừa nhận bản thân sai đã khó, nhưng thừa nhận cha mình sai còn khó hơn gấp bội. Nhưng đó chính là đặc tính của tuổi vị thành niên: phê phán tất cả những thông điệp mà cha mẹ và truyền thông áp đặt lên bản ngã của chúng rồi đối chiếu với thực tế khách quan để xem thông điệp nào bền vững và thông điệp nào không.
Một lý do nữa, đặc biệt khi bạn thách thức những niềm tin tuyệt đối không thể bị chất vấn của chúng về tình dục, khi những học sinh ấy thừa nhận điều bạn nói là đúng khi chỉ dùng bằng chứng khách quan và lập luận chặt chẽ, chúng sẽ phải từ bỏ điều mà chúng hằng cực kỳ yêu thích.
Hàng ngày, dũng khí đa năng duy nhất mà giáo viên phải mang theo khi lên lớp đó là câu: “Bằng chứng của em ở đâu?” Thường học sinh sẽ trả lời cách mông lung kiểu: “Em biết một anh chàng mà...” hoặc “Ai cũng biết rằng...”. Ngược lại, đừng nghĩ bạn có thể thoát được với những khẳng định kiểu: “À, giáo hội nói rằng...” hay “điều răn nói....” Cuộc chiến không ngừng với sự vô tri cách kiên định này đòi hỏi rất nhiều sự nhẫn nại trong chặng đường dài. Và tiến trình ấy cần phải được thực hiện trong yêu thương, vì không ai ưa một sứ giả mang tin xấu cả: bạn đã phạm sai lầm, và bạn phải quay lại từ bước rẽ sai đầu tiên để tái khởi sự. Nhưng nếu giáo lý viên không xóa bỏ những ngăn trở nền tảng ấy, mọi điều họ làm chỉ là xây nhà trên cát. Những học sinh ấy thậm chí chẳng thể nào thể nghe được sự tha thứ, hy sinh, và trong sạch mà Tin Mừng kêu gọi bởi họ đã bị tẩy não bởi truyền thông cách cực kỳ tinh vi trước khi họ có khả năng nhìn nhận cách mù quáng rằng càng có nhiều thứ thì càng hạnh phúc. Từ đó, họ đắm chìm trong những thứ sự bề ngoài, tài sản và công trạng của mình; thậm chí cả những nhân vật đáng ngưỡng mộ nhất trong phim truyền hình cũng “đạt được” mà không phải trả giá.
Trong đạo đức học, điều tương tự cũng đúng. “Quan điểm của tôi cũng tốt như của bất kỳ ai” có thể phát biểu khác là “đạo đức thay đổi theo thời đại và văn hóa.” Tôi không biết họ lấy ý tưởng đó từ đâu, nhưng suốt ba mươi năm qua với bao thay đổi từ thời Eisenhower đến Nixon rồi Bush, niềm tin đó vẫn chắc như bàn thạch ở cả học sinh trung học lẫn đại học. Do đó, một nút thắt khác trong nhận thức luận khác mà giáo viên phải giải quyết trước bất kỳ bài giảng nào đó là sự khác biệt giữa sự thật khách quan và quan điểm chủ quan.
Không thể phủ nhận rằng đạo đức chủ quan đã thay đổi theo thời đại, nhưng đạo đức khách quan bắt nguồn từ bản chất của sự vật là thứ bất biến theo thời đại. Đá vẫn giống như ba nghìn năm trước; cà rốt, thỏ và con người cũng vậy. Nhưng phong cách có thể thay đổi: từ những bộ tóc uốn lượn cầu kỳ đến kiểu cắt tóc flat-top, từ váy bồng bềnh đến bikini. Nhưng ý nghĩa của việc trở thành một con người tốt thì không đổi. Có lẽ các nền văn hóa đã tranh cãi về nhân tính của người da đen và người Do Thái, nhưng nhân tính của họ là điều không thể bàn cãi. Đó là sự thật khách quan không thể chối cãi như hình cầu của trái đất hay tính độc của xyanua. Thế nhưng trong tư cách là Giáo lý viên, bạn sẽ đối diện với độc giả mà xác tín rằng không có khác biệt giữa đạo đức và “lối sống”.
Điều gì làm cho một quan điểm có giá trị?
Mỗi năm, trong mỗi lớp, ngay cả trong giờ Anh ngữ, tôi luôn nói với học sinh về thông báo quan trọng nhất của mình trong năm học là: “Cái cây tỏ cho tôi biết.” Nghĩa là, chính sự vật nói cho tôi biết nó là gì (hành động phân loại) và cách tôi có thể sử dụng nó hợp lý (hành động đánh giá). Con người không chỉ là động vật mà còn có lương tâm. Động vật không phải thực vật bởi chúng biết đau. Thực vật không phải đá vì chúng có thể nuôi sống con người. Bất kể tôi có thích hay có nhận thức được chúng hay không thì đây là những sự thật khách quan.
Bước đầu tiên (điều kiện tiên quyết) là tiếp nhận dữ liệu. Nếu tôi mù thì ý kiến của tôi về màu sắc chẳng đáng nghe; nếu tôi chỉ nghiên cứu dữ liệu qua loa thì quan điểm của tôi chỉ là khí metan từ chốn đầm lầy. (Và chẳng phải đây là cách vô số học sinh tiếp cận một bài luận hay bài phản chăng?). Bước thứ hai là phân loại đối tượng mới này với những đối tượng cùng loài, để tôi không phải bắt đầu từ đầu mỗi khi gặp điều gì mới.
Bước thứ ba là đánh giá đối tượng này và cách sử dụng sao cho hợp lý. Khi đối tượng ấy là con người cho thấy tôi không thể chăn dắt họ như gia súc bởi đơn giản họ là người và có phẩm giá cao hơn. Tôi không thể ném một con chó sống vào nước sôi như củ cà rốt, vì con chó biết đau. Tôi không thể ném thức ăn trong căng tin như ném bóng tuyết. Lúc đó tôi có quyền bày tỏ quan điểm, nhưng khôn ngoan là thực hiện bước cuối cùng, bước thứ năm: Cậy nhờ người tôi tin cậy để phản biện. Nếu sau khi nghiên cứu bằng chứng mà tôi kết luận vừa thấy một con kỳ lân đang ăn hoa loa kèn, tôi muốn xin ý kiến thứ hai. Có thể đó chỉ là con ngựa với mũi tên cắm trên trán, khi ấy tôi quả là thằng ngốc.
Chúng ta phải nhận ra rằng, khác mọi giáo viên khác, với tư cách nhà giáo dục tôn giáo, giáo lý viên không chỉ truyền đạt kiến thức hầu mở mang tầm nhìn, mà còn muốn thay đổi quan điểm. Qủa là phí thời gian nếu điều ta nói về mục đích cuộc sống con người không được thấm nhuần. Còn công việc quả là gian nan nếu điều ta dạy trái ngược trực tiếp với niềm tin vững chắc của học trò (và đúng là vậy). Những điều trên đây quả là hiển nhiên và đơn giản đối với một giáo viên mới, mang trong mình đầy nhiệt huyết, háo hức lên lớp và dội lên đầu học trò cả bầu trời kiến thức hay mở những cuộc tranh luận lớn về đạo đức. Nhưng nếu không yêu cầu chúng hiểu rõ các quy tắc chứng minh, thì điều bạn nói cũng tựa như bạn đang nói tiếng Quan Thoại vậy. Nếu không cày xới đất trước, bạn đang gieo hạt trên nền đá.
Lý luận
Mọi học sinh đều biết suy nghĩ, theo nghĩa là chúng đều có ý kiến riêng, ngẫm suy quan điểm, trăn trở vấn đề. Tuy nhiên, rất ít em biết cách lập luận. Ấy vậy mà đó lại là mục đích chính của giáo dục: học cách tư duy bằng những dữ liệu ngày càng phức tạp hơn. Những kiến thức mà bị nhồi nhét rồi cũng “chữ thầy trả thầy” mà thôi. Ta không thể nào nhớ hết được. Bốn mươi năm rồi tôi chưa từng phân tích một phương trình bậc hai nào, dù thời trung học tôi từng là tay cực giỏi môn này.
Vẫn còn những vấn đề mà học sinh của chúng ta sẽ đối diện mà hiện chưa được tỏ lộ. Giáo viên dạy tôi môn giáo dục tôn giáo bốn mươi năm trước làm sao có thể hình dung nổi chất thải hạt nhân, lỗ thủng tầng ozone, kỹ thuật di truyền, nạn phá thai tràn lan, thuốc tránh thai? Hơn nữa, dù chúng ta có nhiệt tình đến đâu, nhiều câu hỏi chúng ta muốn học sinh thấu hiểu cũng như cũng như các câu trả lời của mình sẽ chẳng bao giờ thành hiện thực. Nhưng sau này khi lớn lên, những vấn đề ấy rất có thể trở nên quan trọng, thế mà chúng sẽ quên sạch những câu trả lời mẫu của ta. Lúc đó chúng sẽ phải tự tìm lời giải. Vì vậy, điều tốt nhất chúng ta có thể dạy sau khi đã chỉ ra tầm quan trọng tuyệt đối của chứng từ khách quan và điểm khác biệt giữa sự thật khách quan với quan điểm chủ quan chính là cách tư duy logic. Quá trình lập luận này khá dễ giải thích – dù tôi biết, ít giáo viên từng làm điều này.
(1) Thu thập dữ liệu
(2) Sàng lọc thông tin quan trọng nhất
(3) Sắp xếp dữ liệu theo trình tự logic
(4) Để rút ra kết luận (ý kiến, luận điểm)
(5) Và đưa ra để nhận phản biện
Đó chính là phương pháp khoa học thuần túy, và cần được áp dụng nghiêm ngặt trong thần học cũng như trong vật lý. Chúng ta còn yêu cầu gì khi học sinh viết bài luận:
(1) nghiên cứu, phần lớn sau này chẳng dùng được; (2) chắt lọc ý chính; (3) lập dàn ý logic; (4) trình bày dữ liệu thành luận điểm tiến triển chứng minh cho đề tài; (5) nộp bài để giáo viên phê bình. Chúng ta yêu cầu gì ở báo cáo thí nghiệm? Tương tự, dù dàn ý đã được soạn sẵn
như công thức nấu ăn. Chúng sẽ làm gì khi sếp yêu cầu đưa ra đề xuất tốt nhất cho tài khoản Smith? Cũng như vậy thôi. Bạn làm gì khi đang cố giải quyết một vấn đề đạo đức? Cũng thế thôi. Bạn làm gì khi đang cố tìm hiểu xem có Thượng đế hay không? Cũng y chang: thu thập, sàng lọc, sắp xếp theo trình tự logic,
rút ra kết luận, và đưa ra để đón nhận phê bình.
Ấy vậy mà rất ít giáo viên mà tôi biết thực sự dạy rõ ràng điều vừa trình bày dù đó là cốt lõi của giáo dục. Và kết quả cho thấy học sinh thường không hiểu thấu đáo được điều này. Quá nhiều em không nghiên cứu hay động não khi viết bài, chỉ viết theo suy nghĩ nhất thời, nên chẳng có gì nhiều để sàng lọc; quá nhiều em bỏ qua việc lập dàn ý, một việc mà những người tầm cỡ họ vẫn làm trước khi viết bài, và nếu bạn yêu cầu một dàn ý, nhiều em sẽ viết bài trước rồi làm dàn ý giả sau; dĩ nhiên những từ sai giáo viên khoanh tròn sẽ vẫn lặp lại ở bài sau? Học sinh chỉ viết bài thực sự khi viết lại.
Bằng chứng giả định có tính thứ yếu, học thuật và khả thi. Trong khi đó, bằng chứng thực mang tính trực tiếp, thuộc về kinh nghiệm, chắc chắn.
Lý lẽ biện luận từ dữ liệu chắc chắn để đi đến kết luận thì có độ khả thi khác nhau. Phương pháp quy nạp lập luận khởi đi từ các mẫu hình nhất quán để khái quát hóa: mỗi lần tôi đặt chảo nước ra ngoài khi nhiệt độ dưới âm không độ, nước đông cứng; mỗi lần tôi uống năm ly martini, tôi hối hận; mỗi lần tôi thấy người ta coi tình dục như trò chơi, nó mất đi ý nghĩa với họ. Phương pháp diễn dịch áp dụng khái quát vào tình huống mới: mỗi lần uống năm ly martini, tôi hối hận; nhưng đây là ly thứ năm tôi uống: Úi chà! Loại suy cố giải thích thực tại ta chưa hiểu qua việc sử dụng. Ví dụ, nếu người làm nghề phá thai để quên kính trong lều khi đi săn, liệu anh ta có thể bắn vào bụi cây hoang lay động dù không hoàn toàn biết chắc chắn về nguyên nhân?
Chứng từ của chuyên gia đáng tin nếu người đó nói trong lĩnh vực chuyên môn của mình. Carl Sagan biết nhiều về thiên văn hơn tôi, và tôi phải khuất phục trước ý kiến khoa học của ông ấy; nhưng khi ông bàn về thần học, ông đang nói về chủ đề ông hiểu ít hơn cả tôi. Hơn nữa, nếu không có sự bất đồng giữa các chuyên viên thì sẽ chẳng có tranh luận nào xảy ra. Nhiệm vụ của học sinh là xem xét cả hai phía như bằng chứng, dữ liệu, và đưa ra phán đoán chân thực nhất về tính hợp lệ của từng bên. Lời nhân chứng đáng tin, nhưng chỉ ở mức nào đó. Mọi công tố viên đều xác nhận rằng con người không phải nhân chứng tốt cho các vụ án. Tôi tin vào lời khai của các phi hành gia rằng họ thực sự đã đổ bộ lên mặt trăng, dù những bức ảnh có thể được dàn dựng trong trường quay, đơn giản vì họ không có lý do gì để lừa dối tôi. Tôi chứng nhận sự tồn tại của Trung Quốc, chứng nhận sự thật rằng cái bàn không hề đặc mà là một thiên hà của các hạt vật chất, chứng nhận rằng axit hydrocianuric không phải thứ để uống - dựa trên lời chứng của người khác, bất chấp việc tôi chưa từng trải nghiệm những điều ấy. Nhưng lời khai của một hai nhân chứng (“Tôi biết gã này sống bằng trợ cấp mà lái Cadillac”) thì quả là chênh vênh.
Tri thức đích thực phải đủ chắc chắn để gần như trở thành hiển nhiên (điều mà chỉ có Chúa mới nắm giữ hoàn toàn). Kinh nghiệm trực tiếp là bằng chứng tốt nhất (dù cho đôi lúc điều ấy cũng có giới hạn: cái bàn này ta thấy hiển nhiên là chất rắn, nhưng thực ra không phải vậy). Nhìn thấy không phải để tin; nhìn thấy là để biết. Tôi tin Chúa hiện hữu, nhưng tôi biết chắc các em trong lớp học này đang ngồi trước mặt tôi. Cách tốt nhất để trả lời những câu hỏi về Chúa, sau khi thu thập đủ mọi khái niệm của tri thức đó là hãy đến và xem: Bằng tương quan cá vị, ta có thể gặp Chúa. Lẽ thường cũng gần như chắc chắn. Dù không có trực tri, tôi gần như chắc chắn về những điều như: tầng trệt của trường học vẫn hiện hữu, mỗi sinh viên tôi dạy đều có cha mẹ là một người nam và một người nữ, thế giới sẽ kết thúc vào ngày mai dường như là rất khó. Một lần nữa, tất cả điều này có vẻ quá đơn giản và hiển nhiên. Ba mươi năm trước, khi tôi bước vào nghề dạy học với việc dọn luận văn thạc sĩ về quan niệm của Dostoevsky về bản chất con người tôi đã gặp những điều hiển nhiên như thế. Cảm giác thật tuyệt khi tôi được A+ luận văn. Là một người từng bị khinh thường trong giờ Anh thời trung học, tôi cho những sinh viên may mắn của mình thấy thế giới của Tội ác và Trừng phạt. Ôi quả la thảm họa. Tôi bị chi phối bởi điều mình cần chứ không phải đó là nhu cầu của đám trẻ. Ba mươi năm kinh nghiệm cho tôi một bài học là mỗi giáo viên nên dạy những bài học nhận thức luận này trước khi dạy bất cứ thứ gì khác: “Cái cây trở nên quen thuộc với tôi”; sự khác biệt giữa sự thật khách quan và ý kiến chủ quan; giá trị ý kiến chỉ hệ tại luận cứ chứng chứng minh; ý kiến chỉ thực sự thuộc về mình khi tự mình thu thập dữ liệu, sàng lọc, sắp xếp theo trình tự logic, rút ra kết luận và đưa ra để phản biện. Việc ai đã dạy điều ấy trước kia không quan trọng. Ôn đi ôn lại mới thật là học. Điều này diễn ra cách thường xuyên khi các học sinh lớp 12 thực sự ấn tượng khi tôi dạy điều này cho chúng dù cũng đã được dạy nhưng điều ấy y như khi chúng còn học lớp 11, đơn giản là chúng chưa sẵn sàng học vào năm ngoái. Có lẽ nếu học sinh được nghe tất cả những điều này đủ nhiều, chúng có thể nhận ra mục đích thực sự của giáo dục, ngay cả giáo dục tôn giáo.
Những Chướng Ngại
Chẳng riêng gì những giáo viên mới vào nghề, cả những người kỳ cựu luôn phải ghi nhớ những rào cản ngăn cách học sinh với những điều chúng ta muốn chúng tiếp nhận, đồng thời phải giúp học sinh cả nhận thấy và thừa nhận rằng những chướng ngại thực sự tồn tại và che mắt chúng khỏi sự thật, không chỉ trong tôn giáo mà ở mọi khía cạnh cuộc sống.
Đầu tiên là những rào cản bên trong mỗi học sinh, bắt nguồn từ sự tự thu mình và tính ù ì mà chúng bị ảnh hưởng từ tổ tiên, điều mà ta gọi là tội tổ tông. Bản năng tự vệ thường che mắt ta khỏi sự thật khách quan, đơn giản vì thừa nhận sự thật buộc ta phải suy nghĩ lại, thay đổi điều mà ta đang ưu tiên, quay lại bước đi sai lầm đầu tiên và tái khởi sự. Gốc rễ của mọi chướng ngại nội tâm này ngăn cản nhận thức và nỗi sợ phải trả lẽ được thể hiện qua việc thực hành chân lý. Và bất kỳ ai tin rằng thông điệp của Tin Mừng không đòi hỏi hy sinh thì chưa bao giờ thực sự hiểu được thông điệp Tin Mừng ấy.
Thứ hai là những rào cản được tạo ra từ bên ngoài, những định kiến tích lũy qua năm tháng về những quan điểm được cho là chắc chắn và không thể bị chất vấn. Truyền thông mang đến cái nhìn hoàn toàn lệch lạc về cuộc sống con người cho bất kỳ ai đủ sáng suốt và có tầm nhìn xa trông rộng. Các chương trình ấy thể hiện quan điểm đơn giản hóa về đời sống gia đình, kinh doanh, cảnh sát, bác sĩ, luật sư; quảng cáo không chỉ khiến ta đánh giá quá mức về ngoại hình, cơ thể, của cải, mà còn biến lòng tham thành tính cách. (Bạn sẽ thấy bất kỳ phê bình nào về chủ nghĩa tư bản cũng bị xem tương đương với chủ nghĩa cộng sản và chống lại Mỹ trong mắt nhiều học sinh.) Nhạc pop có thể trung tính về mặt âm nhạc, nhưng phần lớn ca từ thể hiện quan điểm riêng về giá trị con người. (Hãy lấy các bản tạp chí Hit Parader về, rồi phô tô ít nhất phần lời họ được phép in. Cho thấy rõ những khuôn mẫu: Ví dụ: Em yêu, tất cả đã kết thúc nhưng hãy làm “chuyện ấy” một lần cuối thôi, v.v...) Toàn bộ hình tượng Playboy, đã tràn sang MTV, quảng cáo, báo in, phim truyền hình dài tập và hài kịch tình huống, đã ảnh hưởng sâu rộng đến khả năng nhìn nhận một cách khách quan về tình dục của chúng ta, thay vì qua bộ lọc được lập trình liên tục mỗi ngày. Ngày cả giáo hội cũng thường trở thành chướng ngại cho chính thông điệp của mình trong mắt học sinh: các nghi lễ không giống lễ hội, thành viên của Hội Thánh thì đưa ra vô số chứng từ cho thấy việc gia nhập dường như không khiến họ sống quảng đại hay bao dung hơn người ngoài, các giáo lý đối với học sinh dường như chỉ là mớ quy tắc hầu cố kìm hãm sự tự do của họ. Kinh nghiệm thường nhật ở trường cũng khiến giới trẻ thành kiến rằng thay vì học cách tư duy tri thức ngày càng thêm phức tạp thì điểm số mới là điều quan trọng, họ trở thành chuyên viên trong việc sống mánh lới (Điều này có trong bài kiểm tra không? Câu ghép nối có được dùng nhiều lần không? Em xin gia hạn được không?).
Và tất cả những điều ấy cùng nhiều thành kiến chống lại việc nhìn nhận và chấp nhận sự thật đều được cha mẹ và bạn bè của học sinh dung túng, chấp nhận những quan điểm sai lầm như
chân lý hiển nhiên.
Có lẽ bạn ước mình cứ dạy tiếng Anh hoặc lịch sử phải không? Nhưng có hai thực tế mà ta không thể trốn tránh: những đứa trẻ ta yêu quý và Tin Mừng ta tuyên xưng. Chúng ta là những người nối kết. Công việc của chúng ta là nên sợi dây nối hai điều ấy. Nhưng trước khi làm được điều đó, chúng ta phải dẹp bỏ những chướng ngại đó sự kháng cự trong lòng thính giả khi đối diện với sự thật tiến đến Chân Lý.
Nhiệm vụ trước hết của việc truyền giáo chính là dọn đường.
Đức Hữu
(chuyển ngữ từ tập sách “Becoming a Catechist - Ways to outfox teenage skepticism” của tác giả William J. O'Malley.)
[1] Chú thích của người dịch: Bài kiểm tra Rorschach là một bài kiểm tra tâm lý phóng chiếu, sử dụng 10 thẻ hình vết mực đối xứng để đánh giá cấu trúc tính cách và chức năng tâm lý của một người. Người tham gia được yêu cầu mô tả những gì họ nhìn thấy trong các hình ảnh vết mực này, và nhà tâm lý học sẽ phân tích phản ứng của họ để hiểu về suy nghĩ, cảm xúc và động cơ sâu kín của họ.
[2] Hamlet là vở bi - hài kịch của nhà văn, nhà soạn kịch người Anh William Shakespeare, có lẽ được sáng tác vào năm 1601. Cốt truyện của tác phẩm có nguồn gốc từ thể loại Saga thời đại Trung cổ. Trên sân khấu Anh thời Phục Hưng đã từng diễn nhiều vở kịch cùng tên của nhiều tác giả.
Copyright © 2021 Bản quyền thuộc về Giáo Phận Thái Bình
Đang online: 100 | Tổng lượt truy cập: 13,906,207