Một vài nhận định về những nỗ lực truyền giáo trong quá khứ và hiện nay tại Việt Nam

  • 15/01/2026
  • Bài trình bày này gồm ba điểm chính: (1) Những yếu tố cho thấy vì sao Đàng Ngoài và Đàng Trong đã trở nên những mảnh đất thuận lợi cho Tin Mừng, (2) những khó khăn cũng như những nỗ lực của Giáo hội tại Việt Nam trong thế kỷ XX, (3) những thách đố và những dấu chỉ hy vọng đối với Giáo hội hôm nay.

    Dẫn nhập

    I. Việt Nam – Một vùng đất thuận lợi cho công cuộc truyền giáo

    1. Một vài nhận định của các nhà truyền giáo

    2. Việt Nam – một mảnh đất màu mỡ đón nhận hạt giống Tin Mừng

    3. Hạt giống Tin Mừng mau chóng sinh hoa trái

    II. Những thập niên khó khăn của Giáo Hội tại Việt Nam: từ thập giá đến phúc lành

    1. Hạt giống đối diện nguy cơ bị bóp nghẹt

    2. Hơi thở của Thánh Thần giữa lòng bách hại

    III. Việc loan báo Tin Mừng tại Việt Nam hôm nay – những thách đố, thuận lợi và dấu chỉ của niềm hy vọng

    1. Một vài thách đố đối với việc loan báo Tin Mừng tại Việt Nam hôm nay

    2. Những thuận lợi

    3. Một vài dấu chỉ của niềm hy vọng

    Kết luận

    Dẫn nhập

    Trong dịp sang Pháp nhận tư cách thànhviên danh dự Hội Thừa sai Hải ngoại Paris, và 6 thánh tích cho Trung tâm Hành hương toàn quốc kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, Đức Tổng Giám mục Giu-se Vũ Văn Thiên đã có cuộc gặp gỡ với các học giả, linh mục sinh viên quốc tế, cùng các nhân viên và tình nguyện viên đang phục vụ tại Nhà MEP. Dịp này, ngài đã trình bày một bài thuyết trình về những nỗ lực truyền giáo tại Việt Nam, trong quá khứ cũng như hiện nay. Dưới đây là toàn văn bài thuyết trình:

    Thật là một niềm vui lớn lao và một vinh dự lớn đối với tôi khi được hiện diện giữa anh chị em hôm nay, để cùng chia sẻ đôi điều suy tư về lịch sử công cuộc truyền giáo tại quê hương thân yêu của chúng ta – Việt Nam. Dĩ nhiên, tôi không có ý trình bày một bản tóm lược trọn vẹn về đề tài rộng lớn này. Tôi chỉ muốn dừng lại nơi một vài giai đoạn tiêu biểu trong dòng lịch sử phong phú ấy, để từ đó rút ra đôi nét như những mảnh ghép nhỏ trong bức tranh toàn diện.

    Từ viễn tượng đó, bài trình bày này gồm ba điểm chính:

    – Những yếu tố cho thấy vì sao Đàng Ngoài và Đàng Trong đã trở nên những mảnh đất thuận lợi cho Tin Mừng.

    – Những khó khăn cũng như những nỗ lực của Giáo hội tại Việt Nam trong thế kỷ XX.

    – Những thách đố và những dấu chỉ hy vọng đối với Giáo hội hôm nay.

    I. Việt Nam – Một vùng đất thuận lợi cho công cuộc truyền giáo

    Năm 1614, Hoàng đế Nhật Bản ban hành một sắc lệnh trục xuất tất cả các linh mục Âu châu đang hoạt động trong lãnh thổ của mình. Rất đông các thừa sai Dòng Tên, cùng với nhiều tín hữu Nhật Bản, buộc phải lánh nạn sang các vương quốc lân cận. Tuy nhiên, “chính những tai ương của Giáo hội tại Nhật Bản lại trở nên nguyên nhân cứu độ cho biết bao dân ngoại, vì nhờ biến cố ấy mà họ đã nhận được những hạt giống đầu tiên của Tin Mừng.”[1] Vào thời điểm đó, Việt Nam được chia thành hai vương quốc: Đàng Ngoài ở miền Bắc và Đàng Trong ở miền Nam. Cả hai đều thuộc số những vùng đất được diễm phúc đón nhận Tin Mừng, và mau chóng thu hút sự quan tâm đặc biệt của các thừa sai thuộc nhiều hội dòng và tu hội khác nhau. Những nhận định của họ giúp chúng ta hiểu rõ hơn một số nét đặc trưng trong tâm hồn và tính cách của người Việt thời bấy giờ, và qua đó cho thấy rằng — bên cạnh nhiều khó khăn — dân tộc Việt Nam đã bộc lộ những phẩm chất tuyệt vời, và là một dân tộc giàu tiềm năng cho công cuộc loan báo Tin Mừng.

    1. Một vài nhận định của các nhà truyền giáo

    Trong các tác phẩm cũng như trong những bức thư của mình, các thừa sai đã thực sự phác họa nên một thế giới vừa lạ lẫm vừa đầy cuốn hút mở ra trước mắt họ. Những nhận xét của các ngài về cư dân bản xứ mang nhiều điểm độc đáo và đáng chú ý đến mức chúng ta cần dừng lại để quan sát và suy ngẫm. Vì thế, ở đây chúng tôi xin trích dẫn lại một vài nhận định tiêu biểu ấy.

    Vị thừa sai đầu tiên viết về Đàng Trong và cư dân nơi đây có lẽ là Christoforo Borri SJ, người đã hoạt động truyền giáo tại vùng đất này trong những năm 1618–1622. Trong tác phẩm của mình, ngài dành trọn một chương để mô tả khá sinh động về người Đàng Trong. Chúng tôi xin trích lại một đoạn ngắn như sau: “Người Đàng Trong có tính hiền hòa và lịch thiệp trong giao tiếp hơn bất cứ dân tộc nào khác ở phương Đông. Tuy rất tự hào về phẩm giá và lòng can đảm của mình, họ lại xem việc để cho cơn giận lấn át lý trí là điều đáng hổ thẹn.

    Trong khi các dân tộc phương Đông khác thường coi người Âu châu là phàm tục và xa lánh họ — đến nỗi hễ chúng tôi đặt chân đến đâu, họ đều tránh né, thì tại Đàng Trong lại hoàn toàn ngược lại: họ vui vẻ đến gần, hỏi han đủ điều, mời chúng tôi cùng dùng bữa. Tóm lại, họ biểu lộ với chúng tôi mọi cử chỉ thân thiện, lễ độ và chân tình. Chính tôi và các bạn đồng hành đã cảm nghiệm điều ấy ngay trong những ngày đầu tiên đặt chân đến xứ sở này; có cảm tưởng như chúng tôi đang ở giữa những người bạn thân thiết nhất, như thể đã quen biết từ lâu. Quả thật, đó là một cánh cửa rộng mở cho các nhà giảng thuyết của Đức Giê-su Ki-tô, để có thể loan báo Tin Mừng cứu độ tại đây.”[2]

    Sau Cha Christoforo, Cha Alexandre de Rhodes thường được xem là nhà truyền giáo quan trọng nhất tại Đàng Ngoài. Tuy nhiên, trước khi rao giảng Tin Mừng tại đó, ngài đã trải qua vài năm ở Đàng Trong, từ tháng 12 năm 1624 đến tháng 7 năm 1626. Trong thời gian đầu tiên lưu trú trên mảnh đất này, ngài đã ghi lại nhận xét như sau về cư dân Đàng Trong: “Dân số ở đây rất đông, tính tình của họ thì rất hiền hòa […] Tôn giáo của họ giống như của người Trung Hoa, mà trước kia họ từng gắn bó, cũng như dân Đàng Ngoài; họ có cùng một hệ thống luật pháp và gần như cùng phong tục. Họ có các bậc thầy (học giả) như người Trung Hoa, và các quan lại (mandarins) có uy tín lớn trong dân chúng. Tuy nhiên, tôi nhận thấy họ ít kiêu hãnh hơn người Trung Hoa, dễ gần hơn, và là những chiến sĩ tốt hơn nhiều.”[3]

    Một linh mục Dòng Tên khác, Cha Giu-se Tissanier SJ, đến Đàng Ngoài vào năm 1658, đã để lại nhận xét sau đây: “Khi ấy, Giáo hội Đàng Ngoài tựa như một thiên đàng, nơi các tín hữu sống với một tâm hồn trong trắng đến độ khiến cả những người ngoại đạo cũng phải cảm phục và thừa nhận rằng luật được các nhà truyền giáo giảng dạy thật quá thánh thiện để có thể khinh chê. Quả thật, chính đời sống của các Ki-tô hữu đã là một lý do đủ mạnh để lôi kéo dân ngoại từ bỏ ngẫu tượng, đón nhận Tin Mừng mà không cần đến những bài giảng dài hay phép lạ nào; bởi lẽ, người Đàng Ngoài rất xa lạ với tính kiêu ngạo của người Trung Hoa, và có một tâm hồn được chuẩn bị cách tuyệt vời để đón nhận lý trí cũng như tin vào sự sống đời sau.”[4]

    Chúng ta đang ở Hội Thừa Sai Paris (Missions Étrangères de Paris), nên không thể kết thúc phần nhận định này mà không nhắc đến những nhận xét của các thành viên thuộc Hội này. Cha Phan-xi-cô Xa-vi-ê Marette, lúc ấy là nhà truyền giáo tại vùng Thượng Đàng Ngoài, đã viết trong một bức thư đề tháng 9 năm 1830 như sau: “Người Đàng Ngoài là dân ngoại đạo; tôn giáo của họ gần như giống với tôn giáo của người Trung Hoa. Các tư tế của tôn giáo ngoại giáo dường như không có ảnh hưởng lớn trong dân. Tôi đáng ra phải nói ở đây về tính cách và phong tục của người Đàng Ngoài, nhưng vì điều đó đòi hỏi kinh nghiệm mà tôi chưa có được, nên chỉ có thể trình bày đôi điều — và những điều này lại được tôi mượn từ người khác. Tính cách của dân tộc này xem ra khá hiền hòa, tuy có thể thô bạo với kẻ dưới; ít có khuynh hướng phạm những trọng tội (trừ trong thời loạn hoặc chiến tranh), cũng không dễ đạt tới những nhân đức lớn. Họ thường bù đắp sự yếu đuối bằng sự khôn khéo và mưu mẹo, nhưng thận trọng hơn người Trung Hoa. Người Đàng Ngoài ưa chuộng danh vọng và sự hào nhoáng, nghiêm nghị trong cung cách, song lại nông nổi và hay thay đổi; dễ sa vào trộm cắp, nhưng lại có ác cảm với việc đổ máu. Tôi dừng lại ở đây, vì e rằng mình có thể lầm.”[5]

    Một nhà truyền giáo vĩ đại của vùng Đàng Ngoài Tây, Đức cha Pierre Retord, sau khi nói về các dân tộc sống trong vùng núi, đã bày tỏ nhận định của ngài về cư dân vùng đồng bằng sông Hồng trong một bức thư đề ngày tháng 10 năm 1854 như sau: “Người dân vùng đồng bằng thông minh hơn nhiều, văn minh hơn, tiến bộ hơn trong các nghệ thuật, am hiểu văn chương hơn và cần cù hơn so với các bộ tộc miền núi; tuy nhiên, họ cũng dối trá hơn, xảo quyệt hơn và sa đọa hơn. Dẫu vậy, người An Nam vẫn mang nơi mình nhiều đức tính đáng quý: hiền hòa, nhân hậu với những người khốn khổ, biết ơn ân nhân, ngoan ngoãn và vâng phục khi được đối xử bằng lòng nhân từ. Họ ưa học hỏi, có trí nhớ tốt, và hiểu nhanh những điều được dạy. Dẫu nông nổi và thiếu kiên định trong việc thực hành điều thiện, họ dễ nhận ra lỗi mình và hiếm khi cố chấp trong đường sai. Ký ức về một xúc phạm hay bất công có thể khiến họ mong được báo thù; nhưng đồng thời họ cũng khoan dung, và chỉ cần một lời xin lỗi nhỏ là sẵn sàng tha thứ tất cả, không đòi bồi thường thiệt hại nào. Họ rất kiên nhẫn trong nghịch cảnh và bệnh tật, khéo léo trong việc chế tạo những đồ tinh xảo nhỏ bé dù hầu như không có dụng cụ, và có khả năng tự học một nghề bất kỳ mà không cần thầy. Dù tham vọng và ham của cải, họ cũng có thể rộng lượng đến mức phóng túng, và có thể chịu cảnh nghèo túng mà không kêu ca, không xấu hổ.”[6]

    Từ những nhận xét đó, có thể thấy rằng mảnh đất và con người Việt Nam, với tất cả sự đa dạng và đối lập trong tâm tính, đã trở thành môi trường thuận lợi để hạt giống Tin Mừng bén rễ và phát triển.

    2. Việt Nam – một mảnh đất màu mỡ đón nhận hạt giống Tin Mừng

    Không một quốc gia hay nền văn hoá nào hoàn toàn sẵn sàng để đón nhận Tin Mừng. Vì thế, công việc của các nhà truyền giáo luôn là chuẩn bị mảnh đất ấy, bằng cách khơi dậy và nuôi dưỡng những gì đã là tốt đẹp, đồng thời chỉnh sửa những gì còn trái ngược với các giá trị Tin Mừng.

    a. Những yếu tố bất lợi

    Đối với Việt Nam vào buổi bình minh của công cuộc loan báo Tin Mừng, các nhà truyền giáo đã nhận thấy có nhiều trở ngại.

    Trước hết, như các trích dẫn trên đã cho thấy, người dân đất nước này chịu ảnh hưởng sâu đậm của các tôn giáo gọi là “Trung Hoa”: Phật giáo, Khổng giáo và Lão giáo. Bên cạnh ba truyền thống tôn giáo lớn này, trong mỗi làng, mỗi miền và mỗi tỉnh, còn tồn tại những tập tục mang tính tôn giáo ở nhiều mức độ khác nhau, mà các nhà truyền giáo thường gọi là mê tín. Cũng cần phải nhắc đến việc thờ kính tổ tiên, một truyền thống rất phổ biến ở các nước phương Đông. Cha Alexandre de Rhodes đã ghi nhận như sau: “Có lẽ không có một dân tộc nào trên toàn cõi đất có người ở, lại bày tỏ lòng hiếu kính và tôn trọng hơn đối với linh hồn cũng như di thể của những người đã qua đời, như dân chúng vương quốc An Nam.”[7] Trong bối cảnh tôn giáo như thế, việc loan báo đức tin Kitô giáo vốn mang tính độc thần và độc nhất tất yếu đã tạo ra những xung đột.

    Hệ thống thứ bậc của xã hội, được tổ chức theo những nguyên lý Khổng giáo như một nền triết lý, cũng là một trở ngại thực sự cho công cuộc truyền giáo. Các bậc quân vương cảm thấy uy quyền tuyệt đối của mình bị đe dọa, vì các Kitô hữu công nhận một thẩm quyền tối thượng đứng trên quyền lực các vua chúa trần thế. Hơn nữa, các quan lại (mandarins) e ngại rằng trật tự xã hội đã được duy trì suốt nhiều thế kỷ sẽ bị xáo trộn bởi sự bành trướng của Kitô giáo, tôn giáo mà họ gọi là “tà đạo”. Do đó, những trụ cột xã hội bắt đầu lâm vào khủng hoảng trước sự mở rộng của tôn giáo mới này.

    Ví dụ về chế độ đa thê, vốn rất phổ biến trong nước vào thời ấy, minh họa rõ tình hình. Sau khi một số thành viên thuộc tầng lớp quý tộc thượng lưu của Đàng Ngoài chịu phép rửa, các vợ lẽ (concubines) của họ đã bị đuổi đi. Điều đó gây ra nhiều lời đàm tiếu cho đến khi nhà vua nổi giận và gửi một thông điệp tới các thừa sai mà Cha Alexandre de Rhodes tóm tắt như sau: “Luật pháp nào mà các ngài công bố trong vương quốc ta? Các ngài truyền rằng thần dân ta chỉ được có một người vợ, trong khi ta muốn họ có nhiều người, để sinh thêm con cái trung thành với ta. Vì thế, hãy ngừng ngay việc truyền bá luật đó; nếu các ngài không vâng lời, ta sẽ dễ dàng cho chặt đầu các ngài, và ngăn chặn các ngài tiếp tục làm những điều ta cấm.”[8]

    Về bản tính của dân chúng, các nhà truyền giáo còn nêu lên những khuyết điểm được coi là trái với các giá trị Tin Mừng: mưu mô, nói dối, tính nhẹ dạ, tham vọng và ham chuộng vẻ bề ngoài. Tuy nhiên, những tật xấu này không phải là những trở ngại không thể vượt qua, vì như lịch sử truyền giáo ở Việt Nam đã chứng tỏ, giáo dục Kitô giáo có thể uốn nắn những khuyết điểm ấy và làm cho nhiều phẩm chất tốt đẹp nơi dân tộc này sinh hoa kết trái.

    b. Những yếu tố thuận lợi

    Cha Alexandre de Rhodes, cùng với các thừa sai khác, đã nhận xét rất chính xác về đời sống tôn giáo của người dân nước này: “Người Đàng Ngoài, cũng như người Trung Hoa, thường được chia thành ba phái mà họ gọi là Tam giáo (Tam iau), trong đó, dù là những người thông minh và có lý trí, họ đã thực hành vô vàn những điều mê tín trước khi ánh sáng của Phúc Âm soi chiếu đến họ.”[9]Bên cạnh đó, còn có ảnh hưởng của nhiều tín ngưỡng dân gian. Chúng ta đã đề cập đến yếu tố này như một trong những trở ngại lớn của việc loan báo Tin Mừng; tuy nhiên, nó cũng có thể được xem là một yếu tố thuận lợi, vì các nhà truyền giáo gặp được một dân tộc vốn đã có khuynh hướng tôn giáo, nhạy bén với các giá trị thiêng liêng và các dấu chỉ của sự thánh thiêng — hay như cách nói của cha Joseph Tissanier mà chúng ta đã trích trước đây — là một dân tộc “có bản tính tuyệt vời, dễ theo lẽ phải và tin vào sự hiện hữu của một đời sống khác.”

    Cũng cần lưu ý rằng, mặc dù xã hội Việt Nam thời đó được tổ chức chặt chẽ theo tư tưởng Khổng giáo, và việc rao giảng Tin Mừng có thể bị xem như đe dọa trật tự đã ổn định, nhưng chính cơ cấu xã hội này lại có thể trở thành lợi thế cho công cuộc truyền giáo. Đức cha Retord đã viết về người dân rằng: “Họ hiền lành, đầy nhân ái đối với kẻ khốn khổ, biết ơn các ân nhân, ngoan ngoãn và dễ vâng phục khi được đối xử cách nhân hậu.” Những phẩm chất ấy phần nào là di sản của một xã hội Khổng giáo. Thật vậy, một khi các cộng đoàn Ki-tô hữu được hình thành, các thừa sai có thể đặt trọn niềm tin nơi họ và hy vọng vào sự phát triển của họ, miễn là các cộng đoàn ấy được tổ chức tốt. Lịch sử Giáo hội Việt Nam cho thấy, việc trở lại đạo thường nhanh chóng dẫn đến việc hình thành những cộng đoàn nhỏ, liên đới với nhau, có khả năng tồn tại và phát triển ngay cả khi không có các thừa sai hiện diện.

    Những khuyết điểm trong tính cách người dân không thể che lấp được các phẩm chất đáng quý của họ. Sự cởi mở và tính ham học hỏi của người Việt là cơ hội quý báu cho các nhà truyền giáo bắt đầu việc rao giảng mà không gặp trở ngại lớn. Họ đối diện với một dân tộc thông minh, có trí nhớ tốt, ham học hỏi, dễ nhận ra lỗi lầm của mình, và như Đức cha Retord từng viết, “hiếm khi cố chấp trong đường sai lầm.” Còn có thể mong một cử tọa nào tốt hơn thế cho việc loan báo Tin Mừng?

    Chính những phẩm chất ấy đã lý giải thành công của công cuộc truyền giáo tại Việt Nam trong buổi đầu lịch sử.

    3. Hạt giống Tin Mừng mau chóng sinh hoa trái

    Chúng ta đã thấy rằng nơi cư dân Đàng Ngoài và Đàng Trong, vào buổi đầu công cuộc loan báo Tin Mừng, vừa có những yếu tố bất lợi, vừa có những điều thuận lợi cho việc đón nhận đức tin Ki-tô giáo. Những thành quả lớn lao mà các nhà truyền giáo tiên khởi đạt được đã chứng minh hai điều: một là những người thợ trong vườn nho Tin Mừng đã làm việc với tất cả nhiệt tâm và lòng quảng đại; hai là họ thực sự đã tìm thấy một mảnh đất tốt, nơi hạt giống Lời Chúa có thể bén rễ và mau chóng sinh hoa kết quả dồi dào.

    a. Các nhà truyền giáo đầy nhiệt tâm

    Khả năng thích ứng và chứng tá về một sự dấn thân trọn vẹn nơi các nhà truyền giáo đã đóng vai trò quyết định trong thành công của công cuộc loan báo Tin Mừng. Có rất nhiều minh chứng cho điều đó, nhưng ở đây, chúng ta chỉ nêu trường hợp của cha Alexandre de Rhodes.

    Ngày 19 tháng 3 năm 1627, khi vừa đặt chân lên đất Đàng Ngoài, cha de Rhodes đã khéo léo tận dụng sự hiếu kỳ của đám đông tụ tập để bắt đầu bài giảng đầu tiên của mình: “Vừa mới cập bến, thì một đám đông dân bản xứ, thấy chúng tôi đến, liền chèo thuyền từ làng lân cận ra chào đón và hỏi thăm: chúng tôi là ai, từ đâu đến, và mang theo thứ hàng hóa mới lạ nào? Tôi đáp lại, với tư cách là người thông ngôn cho cả đoàn, rằng đó là một chiếc tàu Bồ Đào Nha — những người vốn đã nổi tiếng khắp vùng Đông phương này, vừa bởi sức mạnh của vũ khí, vừa bởi những hàng hóa quý giá mà họ vẫn thường mang đến từ quê hương xa xôi. Nhân dịp này, tôi nói thêm rằng họ đến để trao cho người Đàng Ngoài một viên ngọc quý, có thể làm cho tất cả những ai mua được nó trở nên giàu có và hạnh phúc, mà giá của nó không quá cao đến nỗi người nghèo nhất cũng không thể mua được, miễn là họ có thiện chí. Nghe vậy, họ tỏ lòng ao ước được xem thử viên ngọc ấy. Tôi liền giải thích rằng viên ngọc đó không thể thấy bằng mắt xác thịt, nhưng chỉ bằng con mắt của tâm hồn, biết phân biệt chân thật với giả dối. Tóm lại, tôi nói với họ rằng chúng tôi đến để loan báo cho họ Luật Thật, có giá trị cao hơn mọi hàng hóa của Ấn Độ, và chỉ có luật ấy mới có thể mở ra cho họ con đường dẫn đến hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu.”[10]

    Bên cạnh sự linh hoạt trong cách rao giảng, cha Alexandre de Rhodes, trong thời gian ba năm lưu trú tại Đàng Ngoài (1627–1630), luôn nỗ lực sống và thực hành các giá trị của Tin Mừng. Ít lâu sau khi cha đến, vào năm 1627, chị gái của nhà vua đã hỏi cha xem ngài có thể làm được điều gì cho người chồng quá cố của bà không. Cha không lợi dụng cơ hội này để tìm cách lấy lòng vị phu nhân bằng những lời nói mập mờ. Chính lòng trung thực và tôn trọng chân lý ấy lại khiến cho một số người trong triều đình cảm phục, nhận ra sức mạnh của đức tin Kitô giáo và xin lãnh nhận Bí tích Rửa tội.[11]

    Gắn bó với chân lý, vị thừa sai này cũng thể hiện một tinh thần từ bỏ gương mẫu. Cha kể lại: “Khi rời Ma Cao, chúng tôi được cấp đủ lương thực cho một năm; tuy nhiên, trong thời gian ba năm cư trú tại vương quốc Đàng Ngoài, dù hết sức tiết kiệm, chúng tôi đã tiêu hết tất cả, kể cả những món quà mà nhà vua ban tặng. Chúng tôi không bao giờ muốn trở thành gánh nặng cho các tân tòng, cũng không nhận của bố thí mà họ sẵn lòng dâng hiến, dù họ sẵn sàng cho đi tất cả, thậm chí đôi mắt mình, nếu chúng tôi yêu cầu, để họ hiểu rằng chúng tôi tìm kiếm linh hồn của họ, chứ không phải tài sản của họ.[12]

    Điều mang tính quyết định trong thành công của cha Alexandre de Rhodes chính là nỗ lực hội nhập văn hoá. Để thánh hoá ba ngày đầu năm âm lịch, cha dạy các Kitô hữu mới dâng ngày thứ nhất cho Thiên Chúa Cha và công trình sáng tạo của Ngài; ngày thứ hai cho Chúa Con và công trình cứu chuộc; ngày thứ ba cho Chúa Thánh Thần, Đấng ban ơn thánh và mời gọi con người đến với Kitô giáo. Trong Mùa Chay, cha soạn mười lăm bài suy niệm về Cuộc Thương Khó của Đức Kitô và khuyến khích các tín hữu đọc lớn tiếng những bài ấy, theo những giai điệu dân gian truyền thống.[13] Sau cùng, để thay thế ba mối liên hệ căn bản của Nho giáo, cha giảng dạy về ba người Cha: Cha Trên Trời là Thiên Chúa, cha thứ hai là nhà vua, và cha thứ ba là cha mẹ trần thế.

    b. Mảnh đất màu mỡ

    Chúng ta còn có nhiều chứng từ khác về lòng nhiệt thành tông đồ của các nhà truyền giáo, nhưng không thể trích dẫn hết ở đây. Tuy nhiên, cần nhắc đến một thực tế khác: sự màu mỡ của mảnh đất mà các nhà truyền giáo đã gieo hạt.

    Ngay từ đầu sứ vụ của mình tại Đàng Trong, Alexandre de Rhodes đã viết: “Điều khiến tôi chú ý không phải là sự phì nhiêu của đất đai nơi này, mà chính là những hoa trái lớn lao mà việc rao giảng Tin Mừng đã sinh ra trong một thời gian rất ngắn. Tôi là chứng nhân của điều đó, và có thể nói rằng, trong năm lần được sai đến đây, tôi luôn nhận thấy phúc lành tuôn đổ trên mảnh đất trù phú này — mảnh đất mà Thánh vịnh Đa-vít từng nói tới — nơi mà trời đổ sương xuống, và mọi cánh đồng đều sinh ra mọi thứ hoa trái dồi dào.”[14]

    Khi lên đường truyền giáo tại Đàng Ngoài vào ngày lễ thánh Giu-se, 19 tháng 3 năm 1627, sau ba năm, khi buộc phải rời khỏi xứ Bắc Kỳ (Tonkin), vị thừa sai ấy đã ghi lại một bản tường trình như sau: “Giáo hội Đàng Ngoài, trong tình trạng mà chúng tôi vừa mô tả, là nơi chúng tôi đã làm việc suốt ba năm, với nhiều thành công và những biến cố rất khác nhau. Khi ấy, Giáo Hội đã có hơn năm nghìn tín hữu, và những hạt giống thánh thiêng của đức tin được gieo vãi trong hầu hết các tỉnh hứa hẹn trong tương lai một mùa gặt rất lớn và dồi dào.”[15]

    Mặc dù phải trải qua những cuộc bách hại và muôn vàn khó khăn khác, số tín hữu Ki-tô tại Việt Nam vẫn gia tăng nhanh chóng. Chúng ta tìm thấy nhiều con số khác nhau trong các bản tường trình của các nhà truyền giáo. Trong khoảng những năm 1655–1659, cha Giovanni Filippo de Marini, Dòng Tên, ước tính rằng Đàng Ngoài có khoảng 350.000 tín hữu[16]; trong khi đó, năm 1658, một tu sĩ Dòng Tên khác là cha Joseph Tissanier đưa ra con số khoảng 300.000 người.[17]

    Trái lại, vị thừa sai đầu tiên thuộc Hội Thừa sai Paris (Missions Étrangères de Paris) đặt chân đến Đàng Ngoài năm 1666, cha François Deydier, cho biết rằng vào khoảng năm 1668–1669, số tín hữu chỉ vào khoảng 100.000 người.[18] Nhà sử học Alain Forest lưu ý rằng các thống kê kỳ ấy có thể đã được phóng đại vì lý do truyền bá đức tin. Hơn nữa, trong một đất nước rộng lớn và trong hoàn cảnh đầy khó khăn như thế, việc tiến hành một cuộc kiểm kê chính xác là điều hầu như không thể. Do đó, cần thận trọng khi đánh giá những con số này, đồng thời vẫn phải công nhận sự phát triển thực sự của công cuộc loan báo Tin Mừng tại Việt Nam trong thế kỷ XVII.

    Tóm lại, nhiều yếu tố đã góp phần vào những thành công ban đầu của công cuộc truyền giáo tại Việt Nam, trong đó sự sẵn sàng đón nhận trong tâm hồn người dân bản địa đóng một vai trò thiết yếu và chứa đựng nhiều hứa hẹn lớn lao.

    II. Những thập niên khó khăn của Giáo Hội tại Việt Nam: từ thập giá đến phúc lành

    Chúng ta không ở đây chỉ để tôn vinh quá khứ — dù quá khứ ấy thật đáng trân trọng — mà còn để nói về hiện tại và nhận ra trong đó những dấu chỉ của niềm hy vọng. Vì thế, chúng ta hãy bước sang một giai đoạn lịch sử gần hơn, được ghi dấu sâu đậm bởi cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1945–1954) và cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai (1955–1975).

    1. Hạt giống đối diện nguy cơ bị bóp nghẹt

    Ở đây, chúng ta muốn trở lại với hình ảnh trong dụ ngôn người gieo giống (Mc 4,1–9), bởi vì trong thế kỷ XX, Giáo Hội tại Việt Nam đã trải qua một giai đoạn mà gai góc dường như mọc lên khắp nơi.

    a. Giáo hội tại miền Bắc từ năm 1954

    Hiệp định Genève năm 1954 đã chấm dứt cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất và tạm thời chia đôi Việt Nam tại vĩ tuyến 17, trong khi chờ đợi cuộc tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Một số lượng lớn người dân miền Bắc đã di cư vào Nam, trong đó người Công giáo chiếm tỉ lệ rất cao. Chính trong bối cảnh đó, Giáo Hội tại miền Bắc đã phải trải qua một trong những cuộc khủng hoảng trầm trọng nhất trong lịch sử của mình.

    Về phương diện nhân sự, khoảng 30% tín hữu Công giáo – trong đó có phần lớn các linh mục, tu sĩ nam nữ và chủng sinh – đã rời miền Bắc để vào Nam sinh sống. Những người trong hàng giáo sĩ còn ở lại phần nhiều là cao tuổi.

    Sau cuộc di cư lớn này, tình hình của cộng đoàn Công giáo miền Bắc trở nên vô cùng bi đát: các chủng viện và tu viện đều bị đóng cửa, không còn giáo lý viên; chỉ còn lại một số ít linh mục, mà đa số đều đã già yếu. Ở một số giáo phận, chỉ còn lại một nửa, thậm chí một phần ba số tín hữu trước đây. Chỉ có một số ít linh mục cao tuổi can đảm ở lại, sẵn sàng chịu đựng mọi thử thách để chăm sóc đoàn chiên.

    Thống kê của Giáo Hội tại miền Bắc năm 1957 cho thấy: có 07 Giám mục, 374 linh mục và 713.000 tín hữu.

    Đến năm 1959, Khâm sứ Tòa Thánh, Đức Tổng Giám mục John Dooley, bị trục xuất vĩnh viễn khỏi miền Bắc. Không một Giám mục nào của miền Bắc được tham dự Công đồng Vatican II.

    Tuy nhiên, giữa những năm tháng khó khăn ấy, đức tin của người Công giáo miền Bắc vẫn kiên vững. Cha mẹ âm thầm truyền lại đức tin cho con cái, Bí tích Thánh Tẩy vẫn được cử hành, và việc dạy giáo lý vẫn được duy trì trong các gia đình – như những hạt giống Tin Mừng âm thầm tiếp tục nảy mầm trong gian khổ.

    Ngày 08 tháng 12 năm 1963, nhân dịp lễ bổn mạng của Giáo phận Bùi Chu, Đức cha Giu-se Ma-ri-a Phạm Năng Tĩnh đã truyền chức linh mục cho 29 chủng sinh trẻ. Sau biến cố này, chính quyền dần dần bắt giam hàng trăm chủng sinh trên khắp miền Bắc. Bên cạnh đó, hầu như tất cả các trường học, bệnh viện, khu đất lớn và các cơ sở của Giáo hội đều bị chính quyền trưng dụng. Như thế, Giáo Hội bị tước mất hầu hết mọi phương tiện sinh hoạt.

    Vì thiếu linh mục và giáo lý viên, nên việc dạy giáo lý gặp nhiều khó khăn và hầu như không thể. Thêm vào đó, do cách tuyên truyền của chính quyền, hình ảnh Giáo hội Công giáo bị hiểu sai nghiêm trọng. Trong thời gian khó khăn này, một số giám mục đã truyền chức “chui” cho các linh mục.

    b. Giáo hội tại miền Nam kể từ năm 1975

    Trong khi Giáo Hội tại miền Bắc phải chịu đủ mọi hình thức khó khăn, thì Giáo Hội tại miền Nam lại được hưởng một thời kỳ tự do rộng rãi. Tuy nhiên, sau biến cố năm 1975, Giáo Hội tại miền Nam cũng gặp nhiều khó khăn như ở miền Bắc, dù ở mức độ nhẹ hơn.

    Những năm sau đó, một làn sóng di cư khổng lồ, nổi tiếng khắp thế giới dưới tên gọi “thuyền nhân” (boat people), ảnh hưởng đến toàn thể xã hội, nhưng đặc biệt là các cộng đoàn Ki-tô hữu. Nhiều người — đàn ông, phụ nữ, kể cả linh mục, tu sĩ nam nữ — đã tìm mọi cách để rời khỏi đất nước, dù phải đánh đổi bằng chính mạng sống mình. Các cộng đoàn Ki-tô hữu miền Nam lúc đó trải nghiệm cùng một cảm thức mà đồng bào miền Bắc đã từng nếm trải hai mươi năm trước. Phải mất nhiều năm, các cộng đoàn ấy mới dần dần lấy lại được sự quân bình và niềm hy vọng cho đời sống đức tin.

    Tại miền Nam, các trường học, bệnh viện và nhiều cơ sở thuộc các dòng tu cũng bị trưng thu. Một số linh mục tuyên úy trong quân đội của chế độ cũ phải đi “cải tạo”. Nhiều tu sĩ nam nữ và chủng sinh phải đi lao động trong các nông trường tập thể. Đối với tôn giáo nói chung, trong đó có Giáo hội Công giáo, không còn được quyền tham gia vào lĩnh vực giáo dục hay y tế. Đời sống của Giáo Hội bị thu hẹp lại, chỉ còn giới hạn trong một vài sinh hoạt nghiêm ngặt bên trong khuôn viên nhà thờ giáo xứ.

    2. Hơi thở của Thánh Thần giữa lòng bách hại

    Giữa những năm tháng khó khăn thử thách ấy, một luồng sinh khí lạ lùng vẫn tiếp tục làm cho Giáo Hội sống động: đó là hơi thở của Thánh Thần.

    Trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn ở miền Bắc kể từ năm 1954, các giám mục và linh mục vẫn không ngừng tìm cách đào tạo giới trẻ trong điệu kiện có thể. Họ tiếp tục xây dựng Dân Chúa, trước hết bằng chứng tá trung thành, kiên vững và âm thầm trong thử thách, nhưng cũng bằng những bài giáo huấn dành cho từng cá nhân hay những nhóm nhỏ. Hằng năm, các giám mục vẫn gửi thư luân lưu — thường nhân dịp các đại lễ — để ban huấn từ và định hướng thiêng liêng thích hợp cho các tín hữu. Nhờ đó, dù các nhà thờ có thể sụp đổ, ngọn lửa đức tin trong lòng Dân Chúa vẫn không bao giờ tắt.

    Trong bầu khí riêng tư và thân mật hơn, các gia đình cố gắng truyền lại đức tin cho con cái, trước hết qua những lời kinh sáng và tối kiên trì. Phương thế thứ hai để gìn giữ và trao truyền đức tin là giáo lý, vốn đã được biên soạn từ lâu dưới dạng hỏi – đáp ngắn gọn và chính xác. Nhờ vậy, các gia đình và thôn xóm nhỏ bé đã trở thành những chiếc nôi đích thực của đức tin.

    Tại miền Nam, kể từ năm 1975, một số linh mục và tu sĩ lại tìm thấy những cơ hội quý giá để đào sâu hiểu biết thần học và Kinh Thánh.

    Trước năm 1975, họ quá bận rộn với vô số hoạt động của Giáo Hội và xã hội — đặc biệt trong các trường học và bệnh viện. Nay, khi không còn bận tâm với những công việc ấy, họ bắt đầu tổ chức những nhóm nhỏ học tập chung, cùng nhau học các ngôn ngữ Kinh Thánh hoặc đọc các tác phẩm của các nhà thần học.

    Biến cố này cũng buộc họ suy tư sâu xa hơn về ý nghĩa thật của ơn gọi, và thúc đẩy sự cộng tác giữa các hội dòng, các tu hội khác nhau. Nhờ đó, họ khám phá lại một cách cá vị và sâu sắc vẻ đẹp của Tin Mừng giữa đời sống hằng ngày.

    Về phần các Ki-tô hữu nói chung, việc chiến tranh chấm dứt cũng mang lại một số điểm tích cực: tiếng bom đạn ngừng vang, không còn cảnh chết chóc mỗi ngày. Người ta cũng nhận thấy một khuynh hướng đào sâu việc dạy giáo lý, để có thể đáp lại những câu hỏi thường xuyên lan truyền qua các phương tiện truyền thông.

    Nhìn lại hành trình của Giáo Hội tại Việt Nam trải qua những năm tháng chiến tranh và thử thách, ta thấy Giáo hội đã vác lấy nhiều thập giá, nhưng cũng đã biết, nhờ ơn Chúa, biến dần những thập giá ấy thành phúc lành. Những khó khăn của các thập niên qua không chỉ là những trở ngại, mà còn là lò luyện đức tin, giúp hình thành một niềm tin sâu sắc hơn, bén rễ hơn, có thể sinh hoa kết trái ngay cả trong những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất.

    III. Việc loan báo Tin Mừng tại Việt Nam hôm nay – những thách đố, thuận lợi và dấu chỉ của niềm hy vọng

    Ngày nay, công cuộc loan báo Tin Mừng tại Việt Nam diễn ra trong một bối cảnh hoàn toàn khác so với quá khứ. Dù vẫn còn đó nhiều thách đố do xã hội hiện đại và những điều kiện đặc thù của đất nước đặt ra, Giáo Hội cũng đang khám phá ra nhiều thuận lợi mới cho sứ mạng của mình. Chính trong sự căng thẳng giữa khó khăn và cơ hội ấy, những dấu chỉ rõ ràng của niềm hy vọng cho tương lai đang dần xuất hiện.

    1. Một vài thách đố đối với việc loan báo Tin Mừng tại Việt Nam hôm nay

    Trong phần này, chúng tôi muốn nêu lên một vài thách đố đặc biệt quan trọng đối với những nỗ lực loan báo Tin Mừng của chúng ta.

    Thách đố đầu tiên liên quan đến những định kiến ăn sâu trong xã hội Việt Nam đối với Giáo hội Công giáo. Đối với nhiều người Việt Nam ngày nay, việc truyền giáo trong quá khứ thường bị đồng hóa với công cuộc thực dân hóa. Cách hiểu này phần nào bắt nguồn từ một số giai đoạn lịch sử, chẳng hạn như thời kỳ từ năm 1856 đến 1885. Tuy nhiên, não trạng gắn liền việc truyền giáo với chủ nghĩa thực dân vẫn còn phổ biến, ngay cả giữa những người có học thức. Do đó, Giáo hội Công giáo vẫn thường bị một số người nhìn nhận như một thực thể xa lạ với các giá trị truyền thống và tinh thần dân tộc. Trong những cuộc đối thoại với các giới trí thức trong nước, người ta vẫn thường nghe những lập luận được lấy cảm hứng từ tác phẩm của Cao Huy Thuần, (Les missionnaires et la politique coloniale française au Viet Nam, 1857–1914), vốn tiếp tục ảnh hưởng mạnh mẽ đến cách nhìn của xã hội về vai trò của Giáo hội trong lịch sử Việt Nam.

    Thách đố thứ hai liên quan đến đời sống của hàng giáo sĩ cũng như của các tu sĩ nam nữ. Sống trong một xã hội chịu ảnh hưởng nặng nề của chủ nghĩa vô thần và duy vật, một số linh mục, tu sĩ cũng bị tác động trong đời sống hằng ngày. Có người sống quá tiện nghi, đôi khi tìm kiếm sự thoải mái vật chất hoặc bắt chước một số thói quen của những người có tiền, có quyền trong xã hội. Sau cùng, cũng như ở nhiều quốc gia khác hiện nay, Việt Nam đang đối diện với tác động của toàn cầu hóa. Trong lòng Giáo hội Công giáo, một thái độ dửng dưng đối với tôn giáo đã bắt đầu xuất hiện. Nhiều người trẻ rời bỏ các giáo xứ gắn bó của mình để đi học hoặc làm việc nơi thành thị; ở đó, họ đánh mất những điểm tựa truyền thống, và đôi khi cả thói quen sống đức tin, vì thiếu các mối dây gắn kết cộng đoàn. Những vấn đề như phá thai, sống thử cũng phổ biến nơi các thành thị. Khủng hoảng tinh thần và luân lý nơi giới trẻ đang trở thành một trong những thách đố lớn nhất hiện nay đối với Giáo hội Việt Nam.

    Tuy những thách đố ấy nghiêm trọng và phức tạp, chính chúng lại mời gọi Giáo hội tại Việt Nam bước vào một hành trình biện phân sâu xa và sáng tạo mục vụ, để đức tin tiếp tục lớn lên giữa những cơn gió ngược của thế giới hôm nay.

    2. Những thuận lợi

    Dù các thách đố còn nhiều, vẫn có không ít yếu tố thuận lợi cho công cuộc loan báo Tin Mừng. Đối diện với những khó khăn đôi khi tưởng chừng đè nặng, Giáo hội tại Việt Nam vẫn được nâng đỡ và nuôi dưỡng nhờ những ân huệ quý giá giúp cho sứ mạng truyền giáo tiếp tục sinh hoa trái. Trước hết, chúng ta có một Giáo hội được tổ chức chặt chẽ.

    Ngay từ buổi đầu của công cuộc truyền giáo tại Việt Nam vào thế kỷ XVII, khi sự hiện diện thường xuyên của các thừa sai không phải lúc nào cũng được bảo đảm – nhất là sau kinh nghiệm đau thương của Giáo hội tại Nhật Bản – cha Alexandre de Rhodes đã thiết lập một hình thức hiệp hội các giáo lý viên để điều hành các công việc mục vụ. Mỗi cộng đoàn nhỏ đều có một người lãnh trách nhiệm điều hành. Truyền thống này vẫn được duy trì cho đến ngày nay: trong những hoàn cảnh không có linh mục hay tu sĩ hiện diện, các cộng đoàn vẫn có thể tồn tại và thậm chí phát triển nhờ vào “Hội đồng giáo xứ”. Cơ cấu tổ chức này, được nâng đỡ bởi nền tảng văn hóa Khổng giáo vốn coi trọng trật tự và tinh thần cộng đoàn, đã giúp Giáo hội giữ được sự gắn bó và hiệp nhất bền chặt giữa các tín hữu.

    Trong xã hội Việt Nam, Giáo Hội còn được nhìn nhận như một môi trường đáng tin cậy, và điều này là một lợi thế lớn cho việc loan báo Tin Mừng. Sau những biến động chính trị tại Đông Âu, nhiều giá trị từng được tuyên truyền qua các phương tiện truyền thông đã bị xem xét lại, khiến xã hội rơi vào một cuộc khủng hoảng niềm tin sâu sắc. Người ta đặt câu hỏi: hiện nay tôi tin vào ai và tin vào điều gì? Trong bối cảnh ấy, chứng tá của tình bác ái Kitô giáo, đặc biệt trong các thảm họa thiên nhiên hoặc trong thời kỳ đại dịch, đã trở thành một lời mời gọi mạnh mẽ đối với nhiều người. Các nhóm sinh viên Công giáo và các phong trào hành động Công giáo – nơi tạo nên những không gian nhân bản hơn, nuôi dưỡng các tương quan chân thành – đang trở thành những môi trường ưu tiên cho công cuộc loan báo Tin Mừng hôm nay.

    Các nghi lễ hôn phối và an táng cũng là những cơ hội đặc biệt cho việc loan báo Tin Mừng. Trong bối cảnh xã hội ngày nay cởi mở hơn, rất nhiều người ngoài Công giáo tham dự các nghi lễ này, đặc biệt là trong các lễ cưới. Chính trong những dịp ấy, họ có thể khám phá vẻ đẹp của phụng vụ Công giáo cũng như giáo huấn của Hội Thánh về hôn nhân và ý nghĩa đích thực của đời sống con người. Nhiều người trong số họ đã được đánh động sâu xa, và một số bắt đầu hành trình đức tin của mình chính từ những buổi cử hành này.

    Hơn nữa, như đã nhiều lần được nhấn mạnh, gia đình giữ vai trò then chốt trong việc truyền đạt đức tin tại Việt Nam. Ý thức tầm quan trọng ấy, Giáo hội luôn nỗ lực giúp giới trẻ được huấn giáo vững vàng, để một ngày kia họ trở thành những người cha, người mẹ có trách nhiệm trong việc nuôi dưỡng đức tin cho gia đình mình. Trong hầu hết các giáo phận, Phong trào Thiếu Nhi Thánh Thể tổ chức chương trình giáo lý từng bước cho trẻ em từ khi lên bảy tuổi. Nhờ đó, các gia đình và giáo xứ vẫn tiếp tục là những mái ấm đức tin đích thực, nơi đức tin được gìn giữ và lớn lên mỗi ngày.

    Việc dạy Giáo lý được thực hiện tại hầu hết các giáo xứ, và được nhấn mạnh như một điều kiện tiên quyết cho tương lai của Giáo hội địa phương. Các giáo phận đều có chương trình dạy Giáo lý cho trẻ em từ 7 tuổi, Giáo lý hôn nhân, Giáo lý dự tòng và Giáo lý cho người trưởng thành.

    Như thế, dù còn nhiều thách đố, nhưng chính trong những môi trường đa dạng ấy, nếu biết khai thác và chăm sóc cách khôn ngoan, Giáo hội tại Việt Nam có thể tìm thấy những cơ hội quý báu và mạnh mẽ cho công cuộc loan báo Tin Mừng hôm nay.

    3. Một vài dấu chỉ của niềm hy vọng

    Mặc dù Giáo hội tại Việt Nam đang phải đối diện với nhiều thách đố, vẫn có những dấu chỉ mạnh mẽ khơi dậy nơi chúng ta lý do để tiếp tục hy vọng và dấn thân với niềm tín thác trong công cuộc loan báo Tin Mừng.

    Một trong những dấu chỉ khích lệ nhất chính là sự phong phú về ơn gọi linh mục và tu sĩ trong Giáo hội. Thật là niềm vui lớn lao khi thấy biết bao bạn trẻ đang học tập và được huấn luyện trong các Đại Chủng viện hay các nhà đào tạo của các hội dòng. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, hiện tượng một số linh mục, tu sĩ sống buông lơi cũng là một lời cảnh tỉnh, mời gọi chúng ta phải có sự phân định nghiêm túc, để giúp các bạn trẻ không chỉ khám phá ơn gọi đích thực của mình, mà còn biết sống trọn vẹn và trung thành với ơn gọi ấy.

    Dấu chỉ hy vọng thứ hai là tỷ lệ người Kitô hữu thực hành đạo vẫn còn rất cao. Các nhà thờ vẫn có rất đông giáo dân tham dự vào mỗi lễ Chúa Nhật và trong những ngày lễ lớn. Nhiều tín hữu còn tham dự thánh lễ hằng ngày. Nhìn chung, họ thể hiện lòng gắn bó với Giáo hội bằng những cách rất cụ thể: tham gia tích cực vào sinh hoạt giáo xứ và giáo phận, đóng góp cho các hoạt động bác ái, và nâng đỡ vật chất cho các nhu cầu của Giáo hội.

    Ngoài ra, còn có nhiều cộng đoàn tu trì năng động, đang nỗ lực loan báo Tin Mừng giữa lòng xã hội qua những sáng kiến phong phú và việc canh tân đoàn sủng của mình. Nhiều tu sĩ sẵn sàng sống giữa các bản làng của anh chị em dân tộc thiểu số, bất chấp muôn vàn khó khăn. Chính tại những nơi ấy, số người trở lại đạo ngày càng tăng, đặc biệt tại các giáo phận Đà Lạt, Ban Mê Thuột và Kon Tum. Trong thời gian đại dịch Covid-19, việc các linh mục, tu sĩ và giáo dân Công giáo dấn thân tại các bệnh viện dã chiến đã làm tăng vẻ đẹp cho hình ảnh Giáo hội, được Chính quyền ghi nhận và đánh giá cao.

    Tóm lại, dù còn khiêm tốn, những dấu chỉ này vẫn làm chứng cho một sức sống đức tin thật sự, và mời gọi chúng ta tiếp tục hành trình loan báo Tin Mừng với niềm hy vọng được đổi mới và lòng tin sâu xa vào hoạt động của Chúa Thánh Thần.

    Kết luận

    Khi nhìn lại lịch sử của Giáo hội Công giáo tại Việt Nam, chúng ta được dịp khám phá lại hành trình tuyệt đẹp của việc đón nhận Tin Mừng nơi dân tộc Việt. Chúng ta chiêm ngắm những thập giá và phúc lành, những thử thách và tái sinh, những khó khăn và những dấu chỉ của niềm hy vọng. Lịch sử ấy cho thấy rằng, bất chấp những cuộc bách hại, những biến động xã hội hay những trở ngại văn hóa, đức tin vẫn luôn tìm được những con đường mới để bén rễ và sinh hoa kết quả.

    Ngày nay, trong một thế giới đang đổi thay không ngừng, Giáo hội tại Việt Nam vẫn được mời gọi làm chứng cho Tin Mừng bằng lòng can đảm, sự sáng tạo và đức trung tín. Các thách đố vẫn luôn còn đó. Tuy vậy, những thuận lợi và dấu chỉ của niềm hy vọng mà chúng ta đã chia sẻ lại là lời mời gọi tiến bước, trong niềm xác tín rằng Chúa Thánh Thần vẫn luôn đồng hành và hướng dẫn Dân Chúa trên mọi nẻo đường.

    Thống kê chính thức của Hội đồng Giám mục Việt Nam (tính đến cuối năm 2024 trên toàn quốc)

    - Số tín hữu Công giáo: 7.524.760

    - Giám mục: 51 (kể cả các giám mục nghỉ hưu)

    - Linh mục triều: 5.335

    - Linh mục dòng: 2.118

    - Nữ tu: 23.056

    - Tu sĩ nam: 4.636

    - Đại chủng sinh: 2.207

    - Giáo lý viên: 80.273

    Tràn đầy niềm hy vọng, chúng ta phó thác Giáo Hội và quê hương Việt Nam trong tay Thiên Chúa, để tình yêu của Đức Ki-tô biến đổi tâm hồn mỗi người, và làm cho chúng ta trở nên những chứng nhân vui tươi và đáng tin cậy của Tin Mừng.

    Paris, ngày 04 tháng 01 năm 2026

    +TGM Giu-se Vũ Văn Thiên
    Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Hà Nội
    Phó Chủ tịch Hội Đồng Giám mục Việt Nam


    [1] F.-M. de Montezon, Sứ vụ tại Đàng Trong và Đàng Ngoài, Paris, 1858, tr. II–III

    [2] C. Borri, Tường trình về sứ vụ mới của các Cha Dòng Tên tại vương quốc Đàng Trong, Rôma, năm 1631, tr. 50.

    Phần trích dẫn này được lấy theo phiên bản tiếng Pháp: Tường trình về sứ vụ mới của các Cha Dòng Tên tại vương quốc Đàng Trong, Rennes, năm 1631, tr. 45–46, có một vài điều chỉnh về chính tả hiện đại, áp dụng cho trích dẫn này cũng như cho các trích dẫn khác trong cùng tài liệu.

    [3] A. de Rhodes, Những cuộc hành trình và sứ vụ khác nhau của Cha Alexandre de Rhodes tại Trung Hoa và các vương quốc khác ở phương Đông, Paris, năm 1653, trang 63–64

    [4] J. Tissanier, Tường thuật chuyến hành trình (Relation du voyage), Paris, 1663, tr. 180. Chúng tôi trích dẫn đoạn văn này theo bản được F.-M. de Montezon chỉnh sửa trong Sứ vụ tại Đàng Trong và Đàng Ngoài (Mission de la Cochinchine et du Tonkin), Paris, 1858, tr. 146

    [5] F.-X. Marette, Thư gửi từ Thượng Đàng Ngoài (Lettre du Haut-Tonkin), tháng 9 năm 1830, trích trong Tư liệu Hội Thừa Sai Paris (Archives des Missions Étrangères de Paris)

    [6] P. Retord, Thư gửi về cư dân vùng đồng bằng Bắc Kỳ (Lettre sur les habitants des plaines du Tonkin), tháng 10 năm 1854, trích trong Tư liệu Hội Thừa Sai Paris (Archives des Missions Étrangères de Paris)

    [7] A. de Rhodes, Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài, Lyon, 1651, tr. 80

    [8] A. de Rhodes, Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài, Lyon, 1651, tr. 80

    [9] A. de Rhodes, Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài, Lyon, 1651, tr. 80

    [10] A. de Rhodes, ibid., 128-129

    [11] A. de Rhodes, ibid., 128-129

    [12] Cf. A. de Rhodes, ibid., 140-141

    [13] Cf. A. de Rhodes, ibid., 201-204

    [14] Alexandre de Rhodes, Divers voyages, 26

    [15] Alexandre de Rhodes, Histoire du Royaume, 254

    [16] Cf. G. F. de Marini, Delle missioni de’ padri della compagnia di Giesù nella Provincia del Giappone, e particolarmente di quella di Tumkino, Roma 1663, 263

    [17] Cf. Đỗ Quang Chính, Dòng Tên trong xã hội Đại Việt 1615-1773, Hà Nội 2008, 186

    [18] Cf. MEP, Relation des missions des Evesques francois aux royaumes de Siam, de la Cochinchine, de Camboye, & du Tonkin, Paris 1674, 283; A. Launay, Histoire de la mission du Tonkin. Documents Historiques. I. 1658-1717. Paris 1927, 86

    Nguồn: hdgmvietnam.com

    Bài viết liên quan