BÀI 16
ĐẤNG MÊ-SI-A BỊ CHỐI BỎ VÀ ĐÓN NHẬN
(Mt 13,54-16,20)
Câu 1: Hãy kể lại câu chuyện Đức Giêsu ở Nagiaret? (13,53-58)
Thưa: Sau khi giảng dạy bằng dụ ngôn xong, 54Người về quê, giảng dạy dân chúng trong hội đường của họ, khiến họ sửng sốt và nói: “Bởi đâu ông ta được khôn ngoan và làm được những phép lạ như thế? 55Ông không phải là con bác thợ sao ? Mẹ của ông không phải là bà Ma-ri-a; anh em của ông không phải là các ông Gia-cô-bê, Giô-xếp, Si-môn và Giu-đa sao? 56Và chị em của ông không phải đều là bà con lối xóm với chúng ta sao? Vậy bởi đâu ông ta được như thế?” 57Và họ vấp ngã vì Người. Nhưng Đức Giê-su bảo họ: “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình và trong gia đình mình mà thôi.” 58Người không làm nhiều phép lạ tại đó, vì họ không tin (Mt 13,54-58).
Câu 2: Câu chuyện về cái chết của Gioan Tẩy giả được kể như thế nào trong Tin Mừng Mátthêu? (14,1-12)
Thưa: Câu chuyện xảy ra như sau: Tiểu vương Hê-rô-đê nghe danh tiếng Đức Giêsu thì hoảng sợ, tưởng rằng Gioan Tẩy Giả đã sống lại từ cõi chết. Thực ra, Hê-rô-đê đã bắt giam và sau đó sai chém đầu Gioan vì Gioan dám lên tiếng trách cứ việc ông lấy Hê-rô-đi-a (vợ của anh trai mình). Nhân ngày sinh nhật, con gái Hê-rô-đi-a nhảy múa, khiến vua vui mừng và thề ban cho cô bất cứ điều gì cô xin. Theo lời xúi giục của mẹ, cô đòi đầu ông Gioan đặt trên mâm. Dù buồn và áy náy, vì đã thề trước mặt quan khách, Hê-rô-đê đành sai người chém đầu Gioan và đem trao cho cô gái (Mt. 14,1-12).
Câu 3: Qua trình thuật Đức Giêsu về quê hương Nazareth và cái chết của Gioan tẩy giả, thánh sử Mát-thêu muốn nhấn mạnh điều gì?
Thưa: Qua hai trình thuật này, thánh sử Mát-thêu muốn nhấn mạnh thứ nhất tất cả đều sửng sốt trước lời giảng dạy khôn ngoan và uy quyền của Đức Giêsu tuy nhiên cả hai lại không chấp nhận Ngài. Người Nazareth không chấp nhận xuất thân bình dân của Đức Giêsu còn Hê-rô-đê thì lại sợ vì Ngài rao giảng sự công chính, con ông thì lại tội lỗi. Thứ hai, cái chết của Gioan tẩy giả tiên báo cái chết của Đức Giêsu khi cả hai làm chứng cho sự thật, hơn nữa chính Đức Giêsu là sự thật.
Câu 4: Hãy kể lại việc Đức Giêsu hoá bánh ra nhiều lần thứ nhất? (Mt 14,13-21)
Thưa: Nghe tin ông Gioan bị giết, Đức Giê-su xuống thuyền đến một chỗ hoang vắng. Nghe biết vậy, đông đảo dân chúng từ các thành đi bộ mà theo Người. 14Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su trông thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương, và chữa lành các bệnh nhân của họ.15Chiều đến, các môn đệ lại gần thưa với Người: “Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn.” 16Đức Giê-su bảo: “Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn.” 17Các ông đáp: “Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá!” 18Người bảo: “Đem lại đây cho Thầy!” 19Rồi sau đó, Người truyền cho dân chúng ngồi xuống cỏ. Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra, trao cho môn đệ. Và môn đệ trao cho dân chúng. 20Ai nấy đều ăn và được no nê. Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy. 21Số người ăn có tới năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con.
Câu 5: Sau đó, chuyện gì xảy ra?
Thưa: Sau đó, 22Đức Giê-su liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng. 23Giải tán họ xong, Người lên núi một mình mà cầu nguyện. Tối đến Người vẫn ở đó một mình. 24Còn chiếc thuyền thì đã ra xa bờ đến cả mấy cây số, bị sóng đánh vì ngược gió. 25Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ. 26Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau: “Ma đấy!”, và sợ hãi la lên. 27Đức Giê-su liền bảo các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” 28Ông Phê-rô liền thưa với Người: “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài.” 29Đức Giê-su bảo ông: “Cứ đến!” Ông Phê-rô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giê-su. 30Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm, ông la lên: “Thưa Ngài, xin cứu con với!” 31Đức Giê-su liền đưa tay nắm lấy ông và nói: “Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi?” 32Khi thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng ngay. 33Những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người và nói: “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!” (14,22-33)
Câu 6: Phép lạ Đức Giêsu hóa bánh ra nhiều (Mt 13,13-21) và đi trên mặt biển (Mt 14,22-33) dạy chúng ta điều gì?
Thưa: Qua hai phép lạ này, thứ nhất thánh sử Mát-thêu muốn trình bày khuân mặt đầy lòng thương xót của Đức Giêsu, Ngài đến để mạc khải Thiên Chúa đã viếng thăm dấn Ngài và đây là thời kì của Đấng Mê-si-a; thứ hai Đức Giêsu được giới thiệu như là Môsê mới khi chính Ngài ban lương thực nuối dưỡng dân; trong khi đó trong phép lạ Đức Giêsu đi trên mặt biển hồ, tác giả lại trình bày một khía cạnh khác về căn tính của Đức Giêsu, Ngài có quyền năng như Thiên Chúa. Qua hai phép lạ các môn đệ đã tuyên xưng đức tin vào Ngài «Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!».
Câu 7: Sau khi ra khỏi thuyền, Đức Giêsu đã làm gì?
Thưa: 34Khi qua biển rồi, thầy trò lên đất liền, vào Ghen-nê-xa-rét. 35Dân địa phương nhận ra Đức Giê-su, liền tung tin ra khắp vùng, và người ta đem tất cả những kẻ đau ốm đến với Người. 36Họ nài xin Người cho họ chỉ sờ vào tua áo của Người thôi, và ai đã sờ vào thì đều được khỏi. (14,34-36).
Câu 8: Cuộc tranh luận giữa Đức Giêsu và các nhà lãnh đạo Do thái về “cái gì làm cho con người ra ô uế” diễn ra thế nào? (Mt 15,1-20)
Thưa: Các người Pha-ri-sêu và kinh sư từ Giê-ru-sa-lem trách Đức Giêsu vì môn đệ Ngài không rửa tay trước khi ăn, vi phạm truyền thống tiền nhân. Đức Giêsu đáp lại: “Các ông dựa vào truyền thống của mình mà vi phạm chính Lời Thiên Chúa. Các ông cho phép con cái lấy cớ ‘Cór-ban’ (dâng cho Chúa) để không phải phụng dưỡng cha mẹ. Các ông lấy luật người mà huỷ bỏ luật Chúa.” Người dẫn lời ngôn sứ Isaia: “Dân này tôn kính Ta bằng môi miệng, còn lòng chúng thì xa Ta.”
Sau đó, Đức Giêsu dạy đám đông: “Không phải cái vào miệng làm con người ra ô uế, nhưng cái từ miệng xuất ra mới làm cho con người ra ô uế. Người giải thích cho các môn đệ: “Những điều xấu từ miệng xuất ra đều phát xuất từ lòng: giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, vu khống… Đó mới là những thứ làm ô uế con người. Còn ăn mà không rửa tay thì không làm ai ra ô uế.
Câu 9: Khi người phụ nữ Canaan chạy đến van xin: “Lạy Ngài là Con vua Đa-vít, xin thương xót tôi! Con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm!”, Đức Giêsu đã phản ứng thế nào?
Thưa: Để thử lòng bà, lúc đầu Đức Giêsu không đáp lời bà. Ngài còn nói với các môn đệ: “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc nhà Ít-ra-en mà thôi.” Khi người đàn bà quỳ xuống van nài: “Lạy Ngài, xin cứu giúp tôi!” Đức Giêsu nói: “Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con.” Nhưng bà thưa một cách khiêm tốn: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn rơi từ bàn chủ.” 28Bấy giờ Đức Giê-su đáp: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy.” Từ giờ đó, con gái bà được khỏi” (Mt 15,21-28).
Câu 10: Mátthêu 15,29-39 kể về điều gì?
Thưa: Tin Mừng kể rằng: Đức Giêsu đến ven biển hồ Ga-li-lê và lên núi. Đám đông rất lớn kéo đến, đem theo những người què quặt, đui mù, tàn tật, câm điếc và nhiều bệnh nhân khác. Người chữa lành tất cả, khiến dân chúng kinh ngạc và tôn vinh Thiên Chúa. Sau đó, vì thương đám đông đã theo Người ba ngày mà không có gì ăn trong sa mạc, Người đã làm phép lạ để nuôi khoảng 4.000 người (không kể phụ nữ và trẻ em) chỉ với 7 chiếc bánh và ít cá mà vẫn còn thu lại được 7 thúng bánh thừa.
Câu 11: Khi những người thuộc phái Pha-ri-sêu và phái Xa-đốc lại gần Đức Giê-su, và để thử Người, thì xin Người cho thấy một dấu lạ từ trời, Người đáp thế nào?
Thưa: 2Người đáp: “Chiều đến, các ông nói: ‘Ráng vàng thì nắng’, 3rồi sớm mai, các ông nói: ‘Ráng trắng thì mưa’. Cảnh sắc bầu trời thì các ông biết cắt nghĩa, còn thời điềm thì các ông lại không cắt nghĩa nổi. 4Thế hệ gian ác và ngoại tình này đòi dấu lạ. Nhưng chúng sẽ không được thấy dấu lạ nào, ngoài dấu lạ ông Giô-na.” Rồi Người bỏ họ mà đi (Mt 16,1-4).
Câu 12: Câu chuyện Chúa cảnh tỉnh các môn đệ về men Pha-ri-sêu và Xa-đốc diễn ra thế nào?
Thưa: 5Khi sang bờ bên kia, các môn đệ quên đem bánh. 6Đức Giê-su bảo các ông: “Anh em phải cẩn thận, phải coi chừng men Pha-ri-sêu và Xa-đốc.” 7Các môn đệ nghĩ thầm rằng: “Tại chúng ta không đem bánh.” 8Nhưng, biết thế, Đức Giê-su nói: “Sao anh em lại nghĩ đến chuyện không có bánh, người đâu mà kém tin vậy? 9Anh em chưa hiểu ư? Anh em không nhớ chuyện năm chiếc bánh nuôi năm ngàn người sao? Và anh em còn thu lại được bao nhiêu giỏ? 10Rồi chuyện bảy chiếc bánh nuôi bốn ngàn người nữa? Và anh em còn thu lại được bao nhiêu thúng? 11Tại sao anh em không hiểu rằng Thầy chẳng có ý nói về bánh, khi Thầy nói: Anh em phải coi chừng men Pha-ri-sêu và Xa-đốc?” 12Bấy giờ các ông mới hiểu là Người không bảo phải coi chừng men bánh, mà phải coi chừng giáo lý Pha-ri-sêu và Xa-đốc.
Câu 13: Khi Đức Giê-su đến vùng kế cận thành Xê-da-rê Phi-líp-phê, Người hỏi các môn đệ rằng: “Người ta nói Con Người là ai?” Các ông trả lời thế nào?
Thưa: 14Các ông thưa: “Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, có người lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ.” 15Đức Giê-su lại hỏi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” 16Ông Si-môn Phê-rô thưa: “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.”
Câu 14: Khi ông Si-môn Phêrô thưa như thế, Đức Giêsu nói gì?
Thưa: 17Đức Giê-su nói với ông: “Này anh Si-môncon ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. 18Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. 19Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.” 20Rồi Người cấm ngặt các môn đệ không được nói cho ai biết Người là Đấng Ki-tô.
Câu 15: Câu hỏi của Chúa Giêsu (16,14-16) và lời giải thích của Ngài dạy chúng ta điều gì (16,17-20)?
Thưa: Qua câu hỏi của Đức Giêsu « người ta nói Con Người là ai » và lời giải thích của Ngài, thứ nhất, thánh sử Mát-thêu muốn nhấn mạnh tới việc nhìn nhận Đức Giêsu không chỉ như môt Rabbi (thầy dạy) nhưng còn là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa. Thứ hai, để nhận biết được điều này, con người không thể tự mình khám pha ra mà phải nhờ mạc khải của Thiên Chúa được chính Đức Giêsu mang đến và hoàn tất. thứ ba, Đức Giêsu muốn các môn đệ tiếp tục sứ mạng rao giảng Tin Mừng này cho muôn dân để họ được giải thoát.
Câu hỏi 16: Đại ý của Mátthêu 13,54-16,20 là gì?
Thưa: Chủ đề chính của Mátthêu 13,54-16,20 chủ yếu xoay quanh việc Đức Giêsu bị chối bỏ và đón nhận. Chủ đề chính này được trình bày theo dòng chảy sau:
· Những nghi ngờ và xung đột đã xảy ra (11-12), giờ đây lại tiếp tục và được đẩy cao hơn: đầu tiên với việc Chúa Giêsu bị người đồng hương chối bỏ (13,54-58).Tiếp đó, câu chuyện về cái chết của Gioan, vị tiền hô của Chúa (14,1-12) báo trước số phận của Đức Giêsu. Con Người sẽ chịu chung số phận như ông (17,12).
· Tuy nhiên, Ngài vẫn kiên trì giảng dạy Nước Trời và bày tỏ tình yêu và quyền năng Thiên Chúa cho cả dân Do thái lẫn dân ngoại qua các phép lạ: hóa bánh nuôi hơn 5.000 và 4.000 người, đi trên mặt nước, chữa lành bệnh tật...
· Dù dân Do thái ngày càng liên kết với nhau để chống đối Ngài (15,1-20; 16,2-4); nhưng dân ngoại lại đón nhận Ngài (14,35), và người phụ nữ dân ngoại nhận ra Ngài là con vua Đa-vít (15,22). Các môn đệ cũng dần nhận ra thân phận thật của Ngài (14,33). Đỉnh điểm là lời tuyên xưng đức tin mạnh mẽ của Phêrô: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (16,16).
BAN GIÁO LÝ ĐỨC TIN GPTB
Copyright © 2021 Bản quyền thuộc về Giáo Phận Thái Bình
Đang online: 168 | Tổng lượt truy cập: 12,774,151