Ủy ban Giáo dân - Thường huấn tháng 11/2026: Ánh sáng của hy vọng chữa lành - Chữa lành ký ức, tương quan và cộng đoàn bằng hy vọng Kitô giáo

  • 03/11/2026
  • Sau đây là các bài thường huấn dành cho giáo dân trong tháng 11/2026 do Ban Nghiên huấn của Ủy ban Giáo dân thực hiện với chủ đề: “Ánh sáng của hy vọng chữa lành - Chữa lành ký ức, tương quan và cộng đoàn bằng hy vọng Kitô giáo.”

    Ban nghiên huấn

    Ủy ban Giáo dân

    Thường huấn tháng 11/2026

    CÁC BÀI THƯỜNG HUẤN DÀNH CHO GIÁO DÂN

    THÁNG 11-2026

    BÀI I - GIÁO HỘI NHƯ CỘNG ĐOÀN CHỮA LÀNH

    BÀI II - NGƯỜI GIÁO DÂN DẤN THÂN CÔNG VIỆC MỤC VỤ CHỮA LÀNH: ĐỒNG HÀNH VỚI NGƯỜI ĐAU KHỔ, TRẦM CẢM, NGHIỆN NGẬP, MẤT PHƯƠNG HƯỚNG

    BÀI III- SỐNG TÍN THÁC VÀ BỀN VỮNG

    TRONG CỘNG ĐOÀN SỐNG TÌNH LIÊN ĐỚI

    BÀI IV - CHĂM SÓC SỨC KHỎE THỂ LÝ VÀ TINH THẦN NHƯ BỔN PHẬN CỦA ĐỨC ÁI

    BÀI I - GIÁO HỘI NHƯ CỘNG ĐOÀN CHỮA LÀNH

    Để Những Vết Thương Tìm Được Nơi Nương Tựa

    Lm. Tôma Vũ Ngọc Tín, SJ

    Có những người bước vào nhà thờ với thương tích không ai nhìn thấy: một người mẹ chịu bạo lực, một thiếu niên bị lạm dụng, một người trầm cảm đang thu mình sau những lần bị hiểu lầm. Họ có thể ngồi giữa cộng đoàn mà vẫn cảm thấy mình không thuộc về đâu cả. Trước những cuộc đời ấy, câu hỏi về Giáo hội như một cộng đoàn chữa lành xuất hiện và chất vấn chúng ta: liệu người đau khổ có thể tìm được nơi chúng ta một chỗ an toàn để nói thật, được bảo vệ và bắt đầu lại không?

    1. Lắng nghe vết thương: để người đau khổ được hiện diện

    Bạo lực, lạm dụng và loại trừ làm tổn thương con người cả trong cách họ nhìn nhậnbản thân, tin tưởng vàongười khác và đến với Thiên Chúa. Đau đớn càng sâu khi người gây tổn thương lại là nhữngngười từng được tín nhiệm. Nạn nhân có thể mất cả khả năng tin vào nơi mình đã tìm đến để được chở che.

    Trong thư gửi Dân Thiên Chúa ngày 20/8/2018, Đức Giáo hoàng Phanxicô nhìn nhận rằng, “Chúng ta đã bỏ rơi họ”.[1] Lời thú nhận ấy mở ra đòi hỏicộng đoàn phải nhìn lại những lần đã im lặng, chậm trễ hoặc đặt danh dự tập thể lên trên tiếng kêu của người bị hại. Tiến trình chữa lành bắt đầu khi sự thật có thể được nói ra mà người lên tiếng không sợ bị tổn thương thêm nữa.

    TheoVăn kiện chung kết Thượng Hội đồng năm 2024, Giáo hội đặt việc lắng nghe trong hành trình chữa lành, sám hối, công lý và hòa giải.[2] Lắng nghe là trao lại cho người bị tổn thương quyền được hiện diện với câu chuyện của mình. Đôi khi, bước đầu của hy vọng chữa lành chỉ là gặp một người đủ kiên nhẫn ở lại, không vội giải thích và không bắt họ phải mau chóng bình tâm.

    2. Đến gần như Đức Kitô: lòng thương xót mang trách nhiệm

    Người Samari nhân hậu đã nhìn thấy, đến gần, băng bó và lo liệu việc chăm sóc được tiếp tục (x. Lc 10,33–35). Những động từ ấy phác họa một tình yêu chịu để mình bị liên lụy bởi đau khổ của người khác. Theo hướng đó, Thánh bộ Giáo lý Đức tin mời gọi các cộng đoàn hãy trở nên “cộng đoàn chữa lành.[3] Trong bối cảnh chăm sóc người bệnh, văn kiện gợi mở một trách nhiệm rộng lớn của cộng đoàn, đó là cùng nâng đỡ sự sống đang mong manh nơi người đau bệnh.

    Trong Tự sắc “Anh em là ánh sáng thế gian” – Vos estis lux mundi, Đức cố Giáo hoàng Phanxicô, cho thấy rằng, tình thương phải có hình hài cụ thể. Ngài yêu cầu cộng đoàn Dân Chúa tiếp đón, lắng nghe, trợ giúp thiêng liêng và hỗ trợ y tế, kể cả trị liệu và tâm lý tùy trường hợp, cho những người trình bày mình bị tổn hại cùng gia đình họ.[4] Lời cầu nguyện cần đi cùng hành động bảo vệ, và sự cảm thông cần dẫn tới trách nhiệm và những trợ giúp thích hợp.

    Đức Phanxicô cũng viết rằng, “Tha thứ không có nghĩa là quên đi”.[5] Vì thế, cộng đoàn phải tôn trọng hành trình phục hồi của nạn nhân, yêu thương và đồng hành với họ. Người bị tổnthương cần được an toàn, tìm công lý và có thời gian trước khi có thể nghĩ đến việc tái lập một tương quan.

    3. Cộng đoàn chữa lành: để chữa lành trở thành nếp sống

    Trong lời nguyện tháng 10/2026, Đức Giáo hoàng Lêô XIV cầu xin cho Giáo hội trở thành “một cộng đoàn đồng hành và không bao giờ loại trừ”. Lời nguyện dành cho mục vụ sức khỏe tâm thần ấy chất vấn cách chúng ta đón tiếp những người đang đau khổ: họ có được trợgiúp và đồng hành hay tiếp tục mang thêm mặc cảm vì những phán xét của cộng đoàn?

    Một giáo xứ chữa lành cần người biết lắng nghe, đầu mối tiếp nhận phản ánh đáng tin cậy và mạng lưới trợ giúp chuyên môn. Cần huấn luyện người phụ trách, phòng ngừa lạm dụng và nâng đỡ cả những người đang chăm sóc người khác. Sự chữa lành lớn lên từ những lựa chọn bền bỉ ấy, trong cử hành phụng vụ, sinh hoạt mục vụ và cách sử dụng quyền hành.

    Có những vết thương cần rất lâu mới dịu lại. Cộng đoàn không thể hứa xóa hết đau khổ, nhưng có thể học cách ở lại và cùng chịu trách nhiệm về những tổn thương. Khi người mang thương tích tìm được nơi nương tựa, lòng thương xót của Đức Kitô trở nên gần gũi với họ; giữa những đổ vỡ của đời mình, họ vẫn được đón nhận để tiếp tục sống niềm hy vọng.

    Tóm lại, Giáo hội trở thành cộng đoàn chữa lành khi dám để nỗi đau của con người chạm đến mình và đổi mới cách sống của mình. Điều ấy đòi hỏi sự dịu dàng để lắng nghe, lòng can đảm để nhìn nhận sự thật và trách nhiệm để bảo vệ người yếu thế. Có những vết thương còn ở lại rất lâu; nhưng giữa hành trình ấy, sự hiện diện trung tín của cộng đoàn có thể giúp một người tìm lại phẩm giá, niềm tin và hy vọng. Nhờ đó, người mang thương tích có thể nói rằng, nơi cộng đoàn tín hữu, tôi được lắng nghe, được bảo vệ và có người bước đi cùng tôi.

    Hồi tâm

    1. Ai đang âm thầm mang thương tích bên cạnh tôi? Thái độ và lời nói của tôi giúp họ an lòng chia sẻ, hay khiến họ thu mình trong im lặng?

    2. Trước mặt Chúa, tôi nhận ra những lần nào mình đã vô tình gây tổn thương, vội phán xét hoặc im lặng trước bất công? Tôi cần làm gì để nhận trách nhiệm và sửa chữa?

    3. Tôi có thể thực hiện việc cụ thể nào để một người đang đau khổ cảm thấy được lắng nghe, được bảo vệ và đồng hành?

    BÀI II - NGƯỜI GIÁO DÂN DẤN THÂN CÔNG VIỆC MỤC VỤ CHỮA LÀNH: ĐỒNG HÀNH VỚI NGƯỜI ĐAU KHỔ, TRẦM CẢM, NGHIỆN NGẬP, MẤT PHƯƠNG HƯỚNG

    Lm. Antôn Hà văn Minh

    Trước những vết thương của con người thời đại hôm nay, từ những tổn thương trong đời sống gia đình, những khủng hoảng tâm lý, sự cô đơn, nghiện ngập, thất vọng, mất phương hướng sống cho đến những đổ vỡ trong các tương quan xã hội, người giáo dân được mời gọi tham gia cách tích cực vào sứ mạng chữa lành của Hội thánh. Mục vụ chữa lành không chỉ là công việc của các linh mục hay tu sĩ, nhưng là trách nhiệm của toàn thể Dân Chúa. Bằng sự hiện diện yêu thương, khả năng lắng nghe, sự cảm thông chân thành và những hành động phục vụ cụ thể, người giáo dân có thể trở thành khí cụ để Thiên Chúa chữa lành những tâm hồn đang đau khổ. Ngay từ những trang đầu của Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, Công đồng Vaticanô II đã xác định mối tương quan mật thiết giữa Hội thánh và thế giới hôm nay khi khẳng định: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của những người nghèo khổ và của tất cả những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Đức Kitô.” (GS, số 1). Lời khẳng định này cho thấy Hội thánh không phải là một thực thể đứng bên ngoài cuộc sống con người để quan sát hay phán xét, nhưng là một người mẹ hiện diện giữa lòng nhân loại, chia sẻ những niềm vui và nỗi buồn của con cái mình. Sứ mạng của Hội thánh không chỉ là giảng dạy chân lý nhưng còn là đồng hành với con người trong những hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống.

    Thật vậy, Hội thánh được mời gọi trở thành dấu chỉ hữu hình của lòng thương xót Thiên Chúa. Điều này không chỉ đòi hỏi các mục tử thể hiện tâm tình của Mẹ Giáo hội để đồng hành chữa lành họ, nhưng chính người giáo dân cũng được mời gọi tham gia vào công việc chữa lành Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nói: con người là con đường của Hội thánh. Vì thế, mọi hoạt động mục vụ đều phải quy hướng về việc phục vụ con người, đặc biệt là những người đang mang thương tích về thể lý, tinh thần hay tâm linh. Một Hội thánh biết đồng hành là một Hội thánh biết cúi xuống trước những đau khổ của con người như chính Đức Kitô đã làm.”[6] Đức Phanxicô nhiều lần mời gọi người giáo dân phải dấn thân đồng hành để chữa lành cho một thế giới đang đối diện với nhiều khổ đau, bất trắc của cuộc đời, ngài nói: “Hội thánh sẽ phải dẫn đưa mọi người – linh mục, tu sĩ, và giáo dân–vào trong ‘nghệ thuật đồng hành’ này, nó dạy chúng ta biết cởi dép khi đứng trên nền đất thánh thiêng của người khác. Bước chân đồng hành này phải có nhịp đều và vững vàng, phản ánh thái độ gần gũi và cái nhìn cảm thông của chúng ta, giúp chữa lành và khích lệ sự tăng trưởng trong đời sống Kitô giáo”[7].

    1- Người giáo dân đồng hành trong mục vụ chữa lành

    · Hiệp hành

    Trước hết, lắng nghe là nền tảng của mọi sự đồng hành. Lắng nghe không chỉ là nghe bằng tai nhưng còn là mở lòng để đón nhận kinh nghiệm, đau khổ và thao thức của người khác. Một cộng đoàn biết lắng nghe sẽ trở thành nơi con người cảm thấy được tôn trọng và được đón nhận.

    Tiếp đến là phân định. Trong mục vụ chữa lành, không phải mọi đau khổ đều giống nhau và cũng không phải mọi trường hợp đều cần cùng một cách tiếp cận. Có những người cần sự nâng đỡ thiêng liêng, có người cần được tư vấn tâm lý, có người cần được chăm sóc y khoa hoặc hỗ trợ xã hội. Phân định giúp người mục vụ nhận ra nhu cầu thực sự của từng người để có thể đồng hành cách thích hợp.

    Sau cùng là đồng hành. Hiệp hành không phải là đi thay người khác nhưng là đi cùng với họ. Đồng hành đòi hỏi sự kiên nhẫn, lòng tôn trọng và khả năng chấp nhận những giới hạn của người khác. Người đang đau khổ thường không cần những giải pháp tức thời, nhưng cần một người sẵn sàng bước đi bên cạnh họ trong những giai đoạn khó khăn nhất của cuộc đời.

    Chính vì thế, mục vụ chữa lành trong tinh thần hiệp hành không đặt trọng tâm nơi việc đưa ra những câu trả lời nhanh chóng, nhưng nơi việc xây dựng những tương quan chân thành, giúp con người cảm nhận được rằng họ không bị bỏ rơi. Qua sự lắng nghe, phân định và đồng hành, Hội thánh trở nên khí cụ của lòng thương xót Thiên Chúa, giúp những tâm hồn bị tổn thương tìm lại niềm hy vọng và ý nghĩa cuộc sống.

    · Gặp gỡ

    Trong mục vụ chữa lành, văn hóa gặp gỡ được thể hiện qua những hành động rất cụ thể: biết dành thời gian để lắng nghe người khác, hiện diện bên cạnh những người cô đơn, quan tâm đến những người đang khủng hoảng tinh thần và sẵn sàng đồng hành với họ trên hành trình phục hồi. Nhiều khi điều người đau khổ cần nhất không phải là những lời giải thích hay khuyên bảo, nhưng là một sự hiện diện đầy yêu thương và cảm thông.

    Đức Phanxicô thường sử dụng hình ảnh Hội thánh như một “bệnh viện dã chiến” giữa thế giới. Trước khi đưa ra những đòi hỏi hay những chỉ dẫn luân lý, Hội thánh cần chăm sóc những vết thương của con người. Chính sự gần gũi, cảm thông và đón nhận là bước đầu tiên của mọi tiến trình chữa lành. Ngài nói: “Tôi thấy rõ rằng điều Hội thánh cần nhất hôm nay là khả năng chữa lành những vết thương và sưởi ấm tâm hồn các tín hữu; Hội thánh giống như một bệnh viện dã chiến sau trận chiến. Phải chữa lành các vết thương trước đã. Rồi sau đó mới có thể nói đến những điều khác.”[8] Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã khuyến dụ: “Việc gặp gỡ không phải vì tò mò, nhưng vì sự sẵn sàng dấn thân. Đó là sự mở ra của một tâm hồn biết cảm thông, một thái độ nội tâm được biểu lộ bằng tình cảm chân thành. Danh hiệu ‘Người Samari nhân hậu’ có thể được dành cho bất cứ ai nhạy cảm trước những đau khổ của tha nhân, biết ‘chạnh lòng thương’ trước bất hạnh của người khác”[9].

    2- Những Nguyên Tắc Căn Bản Của Mục Vụ Chữa Lành

    · Lắng nghe trước khi nói

    Một trong những nhu cầu sâu xa nhất của những người đang đau khổ là được lắng nghe. Nhiều người mang trong mình những vết thương tâm hồn không phải vì họ thiếu lời khuyên, nhưng vì họ không tìm được ai thực sự hiểu và cảm thông với mình. Trong thực tế mục vụ, không ít người đến gặp linh mục, tu sĩ hay những người đồng hành thiêng liêng không phải để tìm kiếm những giải pháp tức thời, nhưng đơn giản là để được chia sẻ nỗi đau đang chất chứa trong lòng.

    Lắng nghe là hành vi đầu tiên của tình yêu. Khi một người cảm thấy mình được lắng nghe, họ cũng cảm thấy mình được tôn trọng và được đón nhận. Chính sự đón nhận ấy giúp họ bớt cô đơn, bớt mặc cảm và dần mở lòng để đón nhận sự trợ giúp từ người khác. Ngược lại, những lời khuyên vội vàng hoặc những kết luận thiếu thấu hiểu có thể khiến người đau khổ càng khép kín hơn. Trong tiến trình mục vụ chữa lành, lắng nghe không chỉ là một kỹ năng nhưng còn là một thái độ thiêng liêng. Người mục vụ được mời gọi lắng nghe bằng trái tim, biết tôn trọng câu chuyện và nhịp độ của người khác. Chính từ sự lắng nghe chân thành mà niềm tin được xây dựng và hành trình chữa lành được khởi sự.

    · Không phán xét

    Những người đang mang tổn thương tâm lý hoặc tinh thần thường rất nhạy cảm trước những lời phê phán và kết án. Họ có thể đang phải chiến đấu với cảm giác tội lỗi, mặc cảm hoặc thất bại. Vì thế, một thái độ phán xét có thể khiến họ cảm thấy bị loại trừ và càng chìm sâu hơn trong đau khổ.

    Mục vụ chữa lành đòi hỏi người đồng hành phải biết nhìn người khác bằng ánh mắt của lòng thương xót. Điều đó không có nghĩa là phủ nhận sự thật hay xem nhẹ những sai lầm, nhưng là biết phân biệt giữa con người và hành vi của họ. Trước khi giúp một người thay đổi, cần giúp họ cảm nhận rằng họ vẫn được yêu thương và tôn trọng. Người mục vụ cần tránh những lời quy kết đơn giản như “thiếu cầu nguyện”, “yếu đức tin” hay “thiếu ý chí”, vì những nhận định ấy có thể làm gia tăng gánh nặng nơi người đau khổ. Thay vào đó, họ cần được gặp gỡ bằng sự cảm thông, tôn trọng và lòng nhân hậu.

    · Tôn trọng tiến trình

    Chữa lành không phải là một biến cố tức thời nhưng là một hành trình dài. Những vết thương tâm lý và tinh thần thường được hình thành qua nhiều năm tháng, vì thế việc phục hồi cũng cần thời gian, sự kiên trì và đồng hành lâu dài. Trong thực tế mục vụ, nhiều người mong muốn thấy kết quả nhanh chóng, nhưng kinh nghiệm cho thấy sự thay đổi đích thực thường diễn ra từng bước nhỏ. Có những người cần nhiều tháng hoặc nhiều năm để vượt qua một biến cố đau thương, thoát khỏi sự lệ thuộc hoặc tìm lại niềm tin vào cuộc sống. Điều quan trọng không phải là tốc độ nhưng là sự tiến triển bền vững. Người mục vụ không thể sống thay hoặc quyết định thay cho họ, nhưng giúp họ khám phá những nguồn lực nội tâm và từng bước tiến tới sự trưởng thành. Điều này đòi hỏi sự khiêm tốn, bởi người đồng hành ý thức rằng chính Thiên Chúa mới là Đấng chữa lành đích thực.

    · Phối hợp với chuyên môn

    Trong nhiều thế kỷ, Hội thánh luôn quan tâm đến việc chăm sóc người đau khổ. Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học nhân văn và y học, Hội thánh càng nhận rõ tầm quan trọng của việc cộng tác với các ngành chuyên môn trong công cuộc chữa lành con người. Tâm lý học, tâm thần học và công tác xã hội đã cung cấp những hiểu biết quý giá về đời sống nội tâm của con người cũng như các phương pháp hỗ trợ những người đang gặp khó khăn về tâm lý. Những kiến thức này không đối nghịch với đức tin nhưng có thể bổ túc cho sứ vụ mục vụ của Hội thánh.

    Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II trong Tông thư Salvifici Doloris nhắc nhở rằng việc chăm sóc người đau khổ phải bao gồm cả những phương thế nhân bản và khoa học mà Thiên Chúa ban cho con người, ngài nói: “Qua dòng lịch sử, hoạt động này đã mang những hình thức tổ chức và thể chế khác nhau, trở thành một lãnh vực phục vụ trong nhiều ngành nghề chuyên môn. Biết bao tinh thần “người Samari nhân hậu” hiện diện nơi nghề nghiệp của bác sĩ, y tá và những người làm các công việc tương tự! Xét theo nội dung Tin mừng của nó, chúng ta có khuynh hướng nhìn đây không chỉ là một nghề nghiệp nhưng còn là một ơn gọi”[10].

    3- Các Phương Thế Chữa Lành

    · Lời Chúa

    Trong hành trình chữa lành con người, Lời Chúa giữ một vị trí đặc biệt vì đó chính là lời ban sự sống và hy vọng. Hiến chế tín lý Dei Verbum dạy: “Trong các sách thánh, Chúa Cha ngự trên trời với tình thương yêu đến gặp gỡ con cái mình và ngỏ lời với họ; sức mạnh và quyền năng chứa đựng trong Lời Thiên Chúa lớn lao đến nỗi trở thành điểm tựa và sinh lực cho Hội thánh, sức mạnh đức tin, lương thực linh hồn, nguồn mạch tinh tuyền và trường tồn của đời sống thiêng liêng.” (DV 21)

    Nhiều người ngày nay rơi vào đau khổ vì đánh mất ý nghĩa cuộc sống hoặc cảm thấy mình bị bỏ rơi giữa những biến động của cuộc đời. Trong những hoàn cảnh ấy, Lời Chúa giúp họ khám phá rằng Thiên Chúa vẫn đang hiện diện, yêu thương và đồng hành với họ. Những trang Tin mừng kể lại sự gần gũi của Đức Giêsu đối với người nghèo, người tội lỗi, người bệnh tật và những ai bị loại trừ giúp người tín hữu nhận ra rằng họ không đơn độc trong những đau khổ của mình. Đức Bênêđictô XVI đã khẳng định: “Lời Thiên Chúa mặc khải cho chúng ta tình yêu của Thiên Chúa và khơi dậy trong lòng chúng ta niềm hy vọng, ngay cả giữa những thử thách của cuộc sống.”[11]

    · Bí tích Hòa Giải

    Một trong những nguyên nhân gây nên đau khổ nội tâm là cảm giác tội lỗi, mặc cảm và sự đổ vỡ trong tương quan với Thiên Chúa cũng như với tha nhân. Nhiều người mang trong lòng những ký ức đau buồn, những sai lầm trong quá khứ hoặc những vấp ngã khiến họ không còn bình an và mất niềm tin vào chính mình. Trong bối cảnh đó, Bí tích Hòa Giải trở thành một phương thế chữa lành đặc biệt mà Đức Kitô đã trao ban cho Hội thánh. Qua bí tích này, người tín hữu không chỉ nhận được ơn tha thứ nhưng còn được phục hồi phẩm giá làm con Thiên Chúa. Họ được mời gọi đặt những gánh nặng tâm hồn dưới chân lòng thương xót của Chúa để tìm lại sự bình an nội tâm.

    Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã gọi Bí tích Hòa Giải là bí tích của sự hoán cải, tha thứ và hòa giải, ngài nhấn mạnh rằng Bí tích Hòa Giải là nơi người tội lỗi gặp gỡ lòng thương xót của Thiên Chúa và được hòa giải với Thiên Chúa cũng như với Hội thánh: “Trong Bí tích Sám hối, người tội lỗi được Thiên Chúa tha thứ và được hòa giải với Hội thánh.”[12] Đối với nhiều người đang mang những tổn thương thiêng liêng hoặc cảm giác thất bại trong đời sống đức tin, việc lãnh nhận Bí tích Hòa Giải cách chân thành có thể trở thành khởi điểm của một hành trình chữa lành sâu xa. Khi được tha thứ, con người cũng học biết tha thứ cho chính mình và mở lòng để xây dựng lại những tương quan đã bị tổn thương.

    · Bí tích Thánh Thể

    Nếu Bí tích Hòa Giải chữa lành những đổ vỡ do tội lỗi gây nên, thì Bí tích Thánh Thể trở thành nguồn sức mạnh nuôi dưỡng và nâng đỡ người tín hữu trên hành trình cuộc sống. Hội thánh luôn xác tín rằng Thánh Thể là “nguồn mạch và chóp đỉnh của toàn bộ đời sống Kitô hữu” (Lumen Gentium, số 11). Trong Bí tích Thánh Thể, Đức Kitô không chỉ ban ân sủng nhưng ban chính mình làm lương thực cho dân Người. Những ai đang mang gánh nặng đau khổ, thất vọng hoặc cô đơn được mời gọi đến với bàn tiệc Thánh Thể để kín múc sức mạnh từ tình yêu tự hiến của Chúa.

    Đức Bênêđictô XVI nhấn mạnh rằng Thánh Thể là bí tích của tình yêu, nơi Đức Kitô tiếp tục hiện diện giữa Hội thánh và trao ban chính mình cho nhân loại. Chính sự hiện diện sống động ấy trở thành nguồn an ủi lớn lao cho những ai đang mang thập giá trong cuộc sống. Khi hiệp thông với Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh, người tín hữu khám phá rằng đau khổ không phải là ngõ cụt nhưng có thể trở thành con đường dẫn đến sự trưởng thành và hy vọng[13].

    · Cộng đoàn đức tin

    Con người được dựng nên để sống trong tương quan. Vì thế, nhiều vết thương phát sinh từ sự cô đơn, đổ vỡ hoặc thiếu vắng những tương quan nâng đỡ. Do đó, việc chữa lành không thể chỉ là một kinh nghiệm cá nhân nhưng cần diễn ra trong lòng một cộng đoàn yêu thương và đón nhận. Nhiều người tìm lại niềm hy vọng nhờ gặp được những người bạn chân thành trong giáo xứ, các nhóm cầu nguyện, hội đoàn hay các cộng đoàn đức tin. Một lời động viên, một sự hiện diện cảm thông hoặc một cử chỉ quan tâm nhỏ bé nhiều khi có thể mang lại sức mạnh lớn lao cho người đang đau khổ.

    Đức Phanxicô nhấn mạnh rằng Hội thánh phải là nơi mọi người cảm thấy được đón nhận, yêu thương và đồng hành. Thật vậy, không ai có thể chữa lành hoàn toàn một mình; mỗi người đều cần đến tình yêu của Thiên Chúa được biểu lộ qua sự hiện diện, nâng đỡ và cầu nguyện của cộng đoàn đức tin[14]. Như vậy, cộng đoàn đức tin trở thành một phương thế chữa lành quan trọng, bởi nơi đó người tín hữu không chỉ nhận được sự trợ giúp tinh thần mà còn cảm nghiệm được sự hiện diện của Đức Kitô đang hoạt động qua tình huynh đệ và sự hiệp thông trong Hội thánh.

    Các phương thế chữa lành mà người giáo dân cần phải quan tâm trong việc đồng hành chữa lành, các phương thế này không chỉ nhằm xoa dịu những đau khổ nhất thời nhưng hướng đến việc phục hồi con người toàn diện trong tương quan với Thiên Chúa, với tha nhân và với chính mình. Qua Lời Chúa, Bí tích Hòa Giải, Bí tích Thánh Thể và đời sống cộng đoàn, Đức Kitô tiếp tục thực hiện sứ mạng chữa lành của Người trong Hội thánh hôm nay. Nhờ đó, những người mang thương tích về thể lý, tâm lý hay thiêng liêng có thể tìm lại niềm hy vọng, ý nghĩa cuộc sống và sức mạnh để bước đi trong niềm tín thác và cậy trông.

    Kết luận

    Mục vụ chữa lành không đơn thuần là một hoạt động bác ái nhằm xoa dịu những đau khổ của con người, nhưng là sự tham dự vào chính sứ mạng cứu độ của Đức Kitô, Đấng đã đến để chữa lành những tâm hồn tan vỡ, nâng dậy những con người bị bỏ rơi và khơi lên niềm hy vọng nơi những ai đang sống trong tuyệt vọng. Vì thế, khi người giáo dân dấn thân vào công việc mục vụ chữa lành không phải là một chọn lựa tùy ý, nhưng là một đòi hỏi phát xuất từ căn tính và ơn gọi của người Kitô hữu. Trong một xã hội ngày càng phát triển về vật chất nhưng cũng chất chứa nhiều tổn thương tinh thần, sự cô đơn, trầm cảm, nghiện ngập và những đổ vỡ trong các mối tương quan, người giáo dân được mời gọi trở thành chứng nhân sống động của lòng thương xót Thiên Chúa. Chứng tá ấy không nhất thiết được thể hiện qua những công việc lớn lao, nhưng bắt đầu từ những cử chỉ rất bình thường: biết lắng nghe mà không vội phán xét, biết hiện diện mà không áp đặt, biết nâng đỡ mà không làm tổn thương phẩm giá của người khác, và biết kiên nhẫn đồng hành ngay cả khi chưa nhìn thấy những kết quả mong đợi. Sự đồng hành đích thực đòi hỏi lòng khiêm tốn để nhận biết giới hạn của bản thân, sự khôn ngoan để phân định những nhu cầu thực sự và tinh thần trách nhiệm để cộng tác với những người có chuyên môn khi cần thiết. Sau cùng, một cộng đoàn Kitô hữu chỉ thực sự trở thành dấu chỉ của Tin mừng khi những người đau khổ có thể tìm thấy nơi đó một mái nhà, những người cô đơn tìm được tình huynh đệ, những người lầm lỡ được mở ra con đường trở về, và những người mất phương hướng tìm lại được niềm hy vọng. Hội thánh không chỉ được nhận diện qua những điều Hội thánh rao giảng, nhưng còn qua cách Hội thánh đón nhận và chăm sóc những con người đang mang thương tích. Chính trong sự gặp gỡ, lắng nghe và đồng hành ấy, khuôn mặt nhân hậu của Đức Kitô được tỏ hiện giữa lòng thế giới.

    Hồi tâm

    1. Tôi thường có thái độ nào: Khi gặp một người đang đau khổ, trầm cảm, nghiện ngập hoặc thất bại trong cuộc sống, cảm thông và lắng nghe, hay thờ ơ, né tránh và vội vàng phán xét?

    2. Tôi có ý thức rằng việc đồng hành và nâng đỡ những người đang mang thương tích trong tâm hồn cũng là một phần trong ơn gọi và sứ mạng của mình?

    3. Gia đình của tôi và cộng đoàn nơi tôi hiện diện đã thực sự trở thành nơi đón nhận, cảm thông và nâng đỡ những người đang gặp khủng hoảng chưa?

    4. Tôi có sẵn sàng dành thời gian, sự kiên nhẫn và tình thương để đồng hành với những người đau khổ, ngay cả khi sự đồng hành ấy đòi hỏi nhiều hy sinh?

    BÀI III- SỐNG TÍN THÁC VÀ BỀN VỮNG

    TRONG CỘNG ĐOÀN SỐNG TÌNH LIÊN ĐỚI

    PX. Nguyễn Thái

    Trong xã hội hôm nay, con người thường đặt nhiều kỳ vọng vào tri thức, tài năng, các mối tương quan và những kế hoạch của mình. Những điều ấy rất cần thiết, nhưng không thể thay thế niềm tín thác vào Thiên Chúa. Là người Kitô hữu, chúng ta được mời gọi vừa nỗ lực chu toàn trách nhiệm, vừa khiêm tốn nhận ra rằng đời mình luôn nằm trong bàn tay quan phòng của Ngài. Tín thác không có nghĩa là thụ động chờ đợi, nhưng là làm điều mình có thể làm, đồng thời đặt những giới hạn, bất an và kết quả trong sự hướng dẫn của Chúa.

    Bên cạnh đó, những thương tổn và khó khăn của con người không thể được chữa lành chỉ bằng nỗ lực cá nhân. Người đau khổ, cô đơn, trầm cảm, nghiện ngập hay mất phương hướng rất cần được lắng nghe, nâng đỡ và đồng hành. Bởi vậy, mỗi cộng đoàn Kitô hữu được mời gọi trở thành nơi có tình hiệp thông và liên đới: nơi mỗi người không bị bỏ lại một mình, nhưng cùng nhau đón nhận ánh sáng và sức mạnh của Đức Kitô. Từ những cộng đoàn nhỏ biết tín thác, kiên trì và yêu thương, niềm hy vọng có thể lan tỏa đến gia đình, Giáo hội và xã hội.

    1. Tín thác là cùng cộng tác với Thiên Chúa

    Chúa Giêsu dạy: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người” (Mt 6,33). Lời ấy không bảo chúng ta bỏ qua công việc hay trách nhiệm, nhưng nhắc rằng Thiên Chúa phải là trung tâm và tiêu chuẩn cho những chọn lựa của mình. Ta vẫn cần suy nghĩ, hoạch định và hành động, nhưng không xem thành công hay thất bại là điều hoàn toàn nằm trong quyền kiểm soát của bản thân.

    Tín thác cũng đòi ta biết phân định. Không phải mọi ý muốn tốt đẹp của mình đều đương nhiên là ý Chúa. Vì thế, người tín hữu cần cầu nguyện, lắng nghe Lời Chúa, tìm lời khuyên khôn ngoan và thành thật nhìn vào hoàn cảnh. Khi Đức Maria thưa: “Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38), Mẹ không hiểu hết con đường phía trước, nhưng vẫn tự do đáp lại bằng lòng tin. Noi gương Mẹ, chúng ta có thể dấn thân hết sức, nhưng khiêm tốn trao phó kết quả cho Chúa.

    2. Bền vững giữa thử thách

    Tín thác không có nghĩa là đời sống sẽ không còn gian nan. Có những lúc lời cầu xin chưa được đáp lại như ta mong muốn; có khi ta phải đi qua thất bại, mất mát, bất đồng hoặc những ngày dài mệt mỏi. Trong những lúc ấy, kiên trì không phải là phủ nhận đau khổ, mà là tiếp tục bước đi với Chúa, từng ngày một, dù chưa thấy rõ lối ra.

    Thánh Phaolô viết: “Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn khi gặp gian truân và chuyên cần cầu nguyện” (Rm 12,12). Cầu nguyện giúp ta không khép kín trong sợ hãi, nhưng mở lòng để đón nhận bình an và ánh sáng của Chúa. Đôi khi, Chúa không cất ngay gánh nặng, nhưng ban sức mạnh để ta mang gánh nặng ấy cùng Người và cùng anh chị em. Vì vậy, cộng đoàn cần kiên nhẫn với người đang yếu đuối, không vội phán xét, nhưng biết khích lệ họ đứng lên và tiếp tục hy vọng.

    3. Cộng đoàn liên đới làm chứng cho Đức Kitô

    Đức tin không chỉ là chuyện riêng giữa mỗi người với Chúa. Chúng ta được quy tụ thành Hội thánh, cùng lắng nghe Lời Chúa, cử hành các bí tích và nâng đỡ nhau trong đời sống. Sách Công vụ Tông đồ kể rằng các tín hữu “chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, hiệp thông với nhau” (Cv 2,42). Sự hiệp thông ấy được thể hiện bằng những việc cụ thể: chia sẻ, thăm viếng, lắng nghe, cầu nguyện và giúp nhau vượt qua khó khăn.

    Thánh Phaolô khuyên: “Anh em hãy mang gánh nặng cho nhau, như vậy là anh em chu toàn luật Đức Kitô” (Gl 6,2). Liên đới không chỉ là giúp đỡ vật chất; đó còn là trao thời gian, sự hiện diện và lòng cảm thông. Một cộng đoàn biết đón nhận người khác trong sự thật và yêu thương sẽ trở thành dấu chỉ sống động của Đức Kitô. Qua những việc nhỏ bé nhưng bền bỉ, chúng ta góp phần làm cho người chung quanh nhận ra rằng họ không đơn độc và vẫn có thể hy vọng.

    Chứng tá trong cuộc sống

    Đối với tôi, sống tín thác vào Chúa không chỉ là xin Người giúp đỡ khi cầu nguyện, nhưng còn là dám lựa chọn điều ngay chính, kể cả khi lựa chọn ấy đòi mình phải từ bỏ một lợi ích hay ý muốn riêng. Có những năm tôi nghĩ mình đã sẵn sàng phó thác cuộc đời cho Chúa. Nhưng khi gặp một vấn đề trong công việc kinh doanh và phải đưa ra quyết định dứt khoát, tôi mới nhận ra lòng mình vẫn còn nhiều lo lắng và muốn tự quyết định mọi sự.

    Nhìn lại những kinh nghiệm ấy, tôi hiểu rằng tín thác không phải là quyết định vội vàng, cũng không phải là bỏ mặc trách nhiệm. Tín thác là biết cầu nguyện, cân nhắc thực tế, lắng nghe những người khôn ngoan và xin Chúa soi sáng để chọn điều phù hợp với Tin mừng. Có lúc, tôi phải buông bỏ chính suy nghĩ mà mình cho là tốt, thậm chí nghĩ rằng sẽ có ích cho Giáo hội, để ưu tiên tìm kiếm sự hiệp nhất và bình an. Điều ấy không luôn dễ dàng, nhưng giúp tôi học cách khiêm tốn hơn trước thánh ý Chúa.

    Tôi vẫn còn phải tập sống như thế mỗi ngày: làm hết sức trong bổn phận, chân thành đối thoại với anh chị em, rồi phó thác phần mình không thể kiểm soát cho Chúa. Tôi tin rằng khi cộng đoàn cùng cầu nguyện, cùng phân định và nâng đỡ nhau, Chúa sẽ dẫn dắt chúng ta trên con đường của Người.

    Lời cầu nguyện

    Lạy Chúa Giêsu, Chúa là nguồn hy vọng và là sức mạnh của chúng con. Xin dạy chúng con biết tín thác vào Chúa, nhất là khi tương lai còn mờ tối và lòng chúng con nhiều lo âu. Xin giúp chúng con biết phân định, chu toàn trách nhiệm và khiêm tốn đón nhận điều Chúa muốn.

    Hồi tâm

    1. Trong hoàn cảnh nào tôi đang được mời gọi tín thác vào Chúa hơn, thay vì chỉ dựa vào khả năng và tính toán của mình?

    2. Khi gặp thử thách, tôi có kiên trì cầu nguyện và tìm sự hướng dẫn khôn ngoan, hay thường vội nản lòng và tự mình quyết định?

    3. Tuần này, tôi có thể làm một việc cụ thể nào để nâng đỡ người đang đau khổ hoặc góp phần xây dựng sự hiệp nhất trong cộng đoàn?

    BÀI IV - CHĂM SÓC SỨC KHỎE THỂ LÝ VÀ TINH THẦN NHƯ BỔN PHẬN CỦA ĐỨC ÁI

    Lm. Giuse Nguyễn Ngọc Ngoạn

    “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh của Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ.” (St 1, 27). Được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, con người là một hữu thể vừa có linh hồn vừa có thể xác. Con người không chỉ là một hữu thể thiêng liêng mà còn là một thân xác sống động có trí tuệ, ý chí, cảm xúc và đời sống tinh thần. Thân xác và linh hồn gắn bó mật thiết với nhau. Vì vậy, chăm sóc sức khỏe thể lý và tinh thần không chỉ là nhu cầu tự nhiên mà còn là bổn phận của đức ái theo Thánh ý của Thiên Chúa.

    Đức ái Kitô giáo mời gọi chúng ta sống yêu mến Thiên Chúa và tha nhân bằng những hành động cụ thể, trong đó có việc bảo vệ, nâng đỡ và chữa lành sự sống của chính mình cũng như của tha nhân. Chăm sóc sức khỏe thể lý và tinh thần cần được nhìn nhận như là một phần trong đời sống đức tin của chúng ta. Đây không phải chỉ là vấn đề cá nhân, mà còn là một hình thức thực hành đức ái, vì sức khỏe của con người ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng yêu thương, phục vụ và hiến thân trao ban.

    Sự sống là hồng ân của Thiên Chúa trao ban cho chúng ta. Vì thế, chúng ta phải có trách nhiệm quản lý thân xác và linh hồn của mình, đồng thời đức ái cũng đòi hỏi chúng ta quan tâm đến hạnh phúc toàn diện của tha nhân. Việc coi thường sức khỏe, hủy hoại thân xác hoặc buông xuôi trước khổ đau là đi ngược lại với tâm tình tạ ơn của chúng ta đối với Thiên Chúa.

    Để được gọi là sống, con người cần phải khỏe mạnh cả về thân xác lẫn linh hồn. Thiên Chúa đã tạo dựng con người không chỉ có hồn hay có xác, cũng không phải là hai phần hồn xác tách rời nhau, nhưng cả hai kết hiệp mật thiết với nhau cách nhiệm mầu để làm thành hữu thể người toàn diện. Nhờ vào đức ái Kitô giáo, chúng ta có thể làm tiến triển đời sống của một con người. Đức ái không dừng lại ở cảm xúc hay lời nói nhưng phải được thể hiện bằng hành động. Đức ái là tình thương cụ thể và có trách nhiệm. Yêu thương bản thân đúng đắn là điều kiện để có thể yêu thương người khác. Yêu thương người khác là quan tâm nâng đỡ để họ có điều kiện để sống mạnh khỏe bình an hạnh phúc thương yêu.

    Việc chăm sóc sức khỏe thể lý là tôn trọng hồng ân Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta, là cộng tác với Thiên Chúa trong việc bảo vệ sự sống. Chúng ta cần phải tránh những thói quen xấu gây hại đến sức khỏe của bản thân. Biết nghỉ ngơi, lao động điều độ, ăn uống lành mạnh là một hình thức sống có trách nhiệm với chính bản thân mình. Nhờ giữ gìn sức khỏe, chúng ta sẽ có khả năng yêu thương phục vụ tốt đẹp cho gia đình, cho xã hội và cho Hội thánh, để có thể chu toàn bổn phận và sứ mạng Thiên Chúa đã trao ban. Chúng ta không được thờ ơ với thân xác, vì thân xác là khí cụ để thi hành Thánh ý Chúa. Không coi thường thân xác, nhưng cũng không tôn thờ thân xác theo hướng hưởng thụ duy vật. Việc chăm sóc sức khỏe phải đi đôi với kỷ luật, tiết độ và tinh thần tự chủ của chúng ta.

    Đức ái Kitô giáo thúc đẩy chúng ta quan tâm chăm sóc những người bệnh, người già, người nghèo, người khuyết tật. Chúng ta giúp người khác được tiếp cận y tế, thuốc men, dinh dưỡng và môi trường sống tốt lành. Đức ái giúp chúng ta có lòng thương xót với những người đang đau khổ, điều đó là biểu hiện cụ thể cho Lòng xót thương của Thiên Chúa.

    Việc chăm sóc sức khỏe tinh thần cũng là bổn phận của đức ái Kitô giáo. Việc chăm sóc sức khỏe tinh thần với phẩm giá và sự tự do nội tâm của con người. Con người được sống tốt với trí tuệ, tình cảm, lương tâm, khả năng yêu thương và niềm hy vọng. Một đời sống tinh thần tốt đẹp giúp con người sống bình an, có trách nhiệm và biết phân biệt điều tốt xấu. Đức ái mời gọi chúng ta đến với tha nhân để chữa lành những tổn thương nội tâm, bằng sự cảm thông, giúp đỡ, tha thứ và cậy trông vào Tình thương của Thiên Chúa.

    Để có được một đời sống nội tâm phong phú, chính chúng ta cần có những phương thế để chữa lành những bệnh tật linh hồn, đó là sự hoán cải và sự cầu nguyện với Thiên Chúa. Cầu nguyện giúp tâm hồn hướng về Thiên Chúa và được bình an. Ăn năn hoán cải giúp chúng ta được đổi mới tự tâm và có được sự sống mới trong Thiên Chúa. Đời sống thiêng liêng mạnh mẽ là nền tảng cho sức khỏe của tinh thần.

    Chúng ta cần quan tâm và hành động để giúp đỡ đến sức khỏe tinh thần của tha nhân. Nhiều người đau khổ không chỉ vì thể xác mà còn do bởi tinh thần, đó là những người đau khổ vì cô đơn, lo âu, tuyệt vọng, trầm cảm và đổ vỡ. Đức ái Kitô giáo đòi hỏi chúng ta đồng hành, lắng nghe, cảm thông, an ủi và thương xót. Sự kiên nhẫn hiện diện, hành động lời nói nhẹ nhàng và sự cảm thông yêu thương chân thành là liều thuốc chữa lành có giá trị rất lớn.

    Việc chăm sóc sức khỏe thể lý và tinh thần như bổn phận của đức ái cần phải được thực hành mọi lúc mọi nơi, với mỗi người và với tất cả mọi người. Trong gia đình, cha mẹ có trách nhiệm giáo dục nhân bản và thiêng liêng cho con cái, con cái có bổn phận hiếu thảo và trợ giúp cho cha mẹ. Nơi xã hội, đức ái Kitô giáo mời gọi chúng ta góp phần xây dựng nền văn hóa sự sống bằng việc bảo vệ môi trường, cổ võ lối sống lành mạnh, bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Chăm sóc sức khỏe về vật chất và tinh thần không chỉ mang tính cách cá nhân mà còn mang chiều kích xã hội và công ích. Nơi Hội thánh, Cộng đoàn đức tin cần tạo môi trường nâng đỡ giúp sức những người đau khổ cả về thể lý cũng như tinh thần. Đức ái Kitô giáo làm cho Hội thánh trở thành dấu chỉ của Tình Chúa xót thương.

    Chăm sóc sức khỏe thể lý và tinh thần không chỉ là quyền lợi, mà như là bổn phận của luân lý phát sinh từ đức ái Kitô giáo. Khi tận tâm chăm sóc thân xác tinh thần của bản thân cũng như cho tha nhân, chúng ta trở thành khí cụ bình an và lòng Chúa xót thương, chúng ta sẽ sống xứng đáng hơn với phẩm giá của một con người và là một người con của Thiên Chúa Tình Yêu.

    Hồi tâm:

    1/. Tôi đã thực sự trân quý thân xác mà Thiên Chúa ban tặng như một "khí cụ để thi hành Thánh ý Chúa" hay chưa? Trong sinh hoạt hằng ngày, tôi có đang duy trì sự cân bằng giữa nghỉ ngơi, lao động, ăn uống lành mạnh và kỷ luật bản thân, hay tôi đang buông xuôi, lơ là, hoặc lạm dụng thân xác vào lối sống hưởng thụ duy vật?

    2/. Đời sống nội tâm và tinh thần của tôi hiện đang thế nào? Tôi có đang nuôi dưỡng tâm hồn mình bằng sự hoán cải, cầu nguyện và cậy trông vào Thiên Chúa để vượt qua những lo âu, cô đơn hay tổn thương, hay tôi đang để tâm hồn mình khô cằn và xa cách Ngài?

    3/. Tôi đã thể hiện đức ái Kitô giáo qua việc quan tâm, chăm sóc đến sức khỏe thể lý và tinh thần của những người xung quanh như thế nào? Tôi có sẵn sàng lắng nghe, cảm thông và trở thành "liều thuốc chữa lành" cho họ bằng sự kiên nhẫn và lòng thương xót không?


    [1] https://www.vatican.va/content/francesco/en/letters/2018/documents/papa-francesco_20180820_lettera-popolo-didio.html?utm_source=chatgpt.com

    [2] Thượng Hội đồng Giám mục, Văn kiện chung kết, 26/10/2024, số 55.

    [3] X. Bộ Giáo lý Đức tin, Người Samaria nhân hậu – Samaritanus bonus, 14/7/2020, được Đức cố Giáo hoàng Phanxicô phê chuẩn ngày 22/9/2020.

    [4] Đức Phanxicô, Tự sắc Vos estis lux mundi, điều 5 §1.

    [5] Đức Phanxicô, Thông điệp Fratelli tutti, 3/10/2020, số 250.

    [6] Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Missio, số 14

    [7] Đức Phanxicô, Tông Huấn Evangelii Gaudium, số 169

    [8] Cuộc phỏng vấn Đức Thánh cha Phanxicô do cha Antonio Spadaro thực hiện vào ngày 19-8-2013, La Civiltà Cattolica 2013. Nguồn: https://www.vatican.va/content/francesco/en/speeches/2013/september/documents/papa-francesco_20130921_intervista-spadaro.html

    [9] Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Tông thư Salvifici Doloris, số 28.

    [10] Nt số 29.

    [11] Đức Bênêđictô XVI, Tông huấn Verbum Domini, số 23

    [12] Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Tông huấn Reconciliatio et Paenitentia, số 31

    [13] X. Đức Bênêđictô XVI, Tông huấn Sacramentum Caritatis (2007), số 1; số 88

    [14] X. Đức Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium 47, Tông huấn: Fratelli Tutti 30-31.

    Nguồn: hdgmvietnam.com

    Bài viết liên quan