Ủy ban Giáo dân: Thường huấn tháng 5/2026

  • 05/05/2026
  • WHĐ (05/5/2026) - Sau đây là loạt bài thường huấn dành cho giáo dân trong tháng 5/2026 do Ban Nghiên huấn của Ủy ban Giáo dân thực hiện.
    Caption

    Ban Nghiên huấn
    Ủy ban Giáo dân
    Hội đồng Giám mục Việt Nam

    CÁC BÀI THƯỜNG HUẤN DÀNH CHO GIÁO DÂN

    THÁNG 5/2026

    BÀI I - ƠN GỌI NÊN THÁNH PHỔ QUÁT

    BÀI II - CANH TÂN GIA ĐÌNH THÀNH CỘNG ĐOÀN SỐNG THÁNH THỂ

    BÀI III - ĐÀO LUYỆN NHÂN CÁCH: NỀN TẢNG CHO CHỨNG TÁ ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU

    BÀI IV - HOÁN CẢI TỪNG NGÀY: NHỮNG BƯỚC NHỎ, CỤ THỂ VÀ BỀN BỈ

    BÀI I - ƠN GỌI NÊN THÁNH PHỔ QUÁT

    Lm. Giuse Maria Lê Quốc Thăng

    Hiến chế Lumen gentium (LG) của Công đồng, Hiến chế về Giáo hội, dành trọn chương năm để nói về ơn gọi nên thánh phổ quát của tất cả các tín hữu: mỗi người chúng ta được mời gọi sống trong ân sủng của Thiên Chúa, thực hành các nhân đức và nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô. Theo Hiến chế của Công đồng, sự thánh thiện không phải là đặc ân của một số ít người, nhưng là một ân ban đòi hỏi mọi người đã chịu phép rửa phải hướng đến sự hoàn thiện của đức ái, nghĩa là sự viên mãn của tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. Thật vậy, đức ái là trung tâm của sự thánh thiện mà tất cả các tín hữu được mời gọi: được Chúa Cha ban tặng, nhờ Đức Giêsu Kitô, nhân đức này “điều hòa mọi phương thế nên thánh, ban cho chúng hình thức và dẫn đưa chúng đến mục đích” (LG, 42). Mức độ cao nhất của sự thánh thiện, như ngay từ thuở đầu của Giáo hội, là tử đạo, “chứng tá cao cả nhất của đức tin và đức ái” (LG, 50). Vì thế, văn kiện của Công đồng dạy rằng mỗi tín hữu phải sẵn sàng tuyên xưng Đức Kitô cho đến đổ máu (x. LG, 42), như đã luôn xảy ra và vẫn đang xảy ra cả ngày nay. Sự sẵn sàng làm chứng ấy được thể hiện mỗi khi các Kitô hữu để lại những dấu chỉ của đức tin và tình yêu trong xã hội, dấn thân cho công lý.

    1. Đặc điểm cốt lõi về ơn gọi nên thánh

    Theo lời dạy của Công đồng: “mỗi người Kitô hữu chúng ta được mời gọi sống trong ân sủng của Thiên Chúa, thực hành các nhân đức và nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô” (LG 42) cho thấy bản chất của việc nên thánh là sống thánh thiện trong cuộc sống hàng ngày, trở nên giống Chúa Giêsu, “mặc lấy tâm tình của Đức Kitô”. Bởi vì Thiên Chúa là Đấng Thánh và mời gọi con người sống thánh thiện (Lv 19,2). Đức Thánh cha Phanxicô cũng nhắc lại lời mời gọi mọi người hãy nên thánh trong thế giới ngày nay. Trong Tông huấn Gaudete et Exsultate – Hãy vui mừng và hân hoan, Ngài cho thấy để nên thánh không nhất thiết phải là giám mục, linh mục hay tu sĩ. Nhiều khi chúng ta bị cám dỗ để nghĩ rằng sự thánh thiện chỉ dành cho những ai có cơ hội giữ khoảng cách với những công việc bình thường, để dành nhiều thời gian cho việc cầu nguyện. Không phải như thế. Tất cả chúng ta đều được kêu gọi trở nên thánh bằng cách sống chu toàn bổn phận với tình yêu, nên lời chứng tá Tin mừng trong công việc hàng ngày dù ở bất cứ đâu và trong hoàn cảnh nào.

    2. Con đường để nên thánh

    Con đường nên thánh không phải là điều cao siêu, mà là sống trọn vẹn bổn phận, khiêm nhường, kiên nhẫn và xót thương người xung quanh. Mỗi người có một nẻo đường riêng. Các khía cạnh chính của con đường nên thánh:

    - Bắt chước Chúa Giêsu: Sống như Chúa Giêsu luôn yêu thương, phục vụ, và làm theo ý muốn của Thiên Chúa.

    - Sống yêu thương đời thường: Nên thánh trong cuộc sống hàng ngày thông qua những lời tử tế, hy sinh nhỏ bé, và việc cầu nguyện.

    - Sống tinh thần nghèo khó và trong sạch: Theo sự thánh thiện gắn liền với tâm hồn trong sạch và tinh thần nghèo khó.

    - Đa dạng con đường: Mỗi người có một “con đường nên thánh” riêng biệt (giảng dạy, phục vụ, cuộc sống ẩn dật), được khẳng định.

    - Hành trình hoán cải: Nên thánh không đòi hỏi sự hoàn hảo ngay từ đầu. Con người có thể vấp ngã, nhưng chính lòng ăn năn và sự trở lại, sự trông cậy vào lòng thương xót của Chúa mới là con đường dẫn đến sự thánh thiện.

    3. Nên thánh trong đời sống hằng ngày

    “Nên thánh” là cuộc đời của hạt lúa mì, của việc tự hiến bản thân trở nên hoa trái, lương thực và đem lại sự sống cho tha nhân. Qua đời sống thường ngày, chúng ta hãy làm cho sự sống của chúng ta luôn bừng cháy, nghĩa là đầy sức sống của Thiên Chúa và làm cho sức sống ấy được lan tỏa ngang qua cách chúng ta hiện diện mỗi ngày. Ơn gọi làm người không hệ ở những của cải vật chất hay những điều thiết yếu cho cuộc sống. Đành rằng chúng quan trọng nhưng điều chính yếu làm người trọn vẹn là trở về với chiều sâu nội tâm, nơi đó con người khám phá ra hồng ân sự sống được phát xuất từ Thiên Chúa và luôn quy hướng về Thiên Chúa. Ý thức được điều ấy, chúng ta sẽ luôn nhận ra được tiếng gọi hướng thiện, và trở về với Đấng Tạo Hoá của mình như điểm đến tối hậu. Có thể nói rằng “nên thánh” gắn liền với ơn gọi làm người. Ai sống hết mình trong hoàn cảnh và cương vị của mình theo tiếng gọi của Chúa đều trở nên thánh thiện, hoan hỷ và sinh hoa trái thiêng liêng dồi dào. Như thế, sự thánh thiện là căn tính của con người, là cõi riêng, là tất cả.

    Cần phải biết chấp nhận ơn gọi của bản thân. Mỗi người đều được mời gọi nên thánh trong bậc sống của mình. Chúng ta được gọi vào đời sống thánh hiến ư? Hãy nên thánh bằng cách sống cam kết của mình với niềm hân hoan. Chúng ta là người lập gia đình ư? Hãy nên thánh bằng cách yêu thương và chăm sóc cho vợ cho chồng, như Đức Kitô đã yêu thương và chăm sóc Hội thánh. Chúng ta đang phải làm việc để mưu sinh ư? Hãy nên thánh bằng cách lao động với sự chính trực và khả năng để phục vụ anh chị em mình. Chúng ta là cha mẹ, ông bà ư? Hãy nên thánh bằng cách kiên trì dạy dỗ con cháu để chúng biết đi theo Đức Kitô. Chúng ta là người có quyền ư? Hãy nên thánh bằng cách làm việc cho công ích và từ bỏ cách lợi lộc bản thân (GE 14). Sự thánh thiện không phải là điều xa vời hay tách khỏi cuộc sống hàng ngày của chúng ta mà thuộc về chính bản chất của mỗi người.

    Như thế, ơn gọi nên thánh vừa là lời mời gọi của Chúa dành cho mọi người, vừa là sự đòi buộc cao cả, hay là sự đòi hỏi tự bản tính con người. Sinh ra để nên thánh. Vì chúng ta được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa và được mời gọi nên giống Người. Đây không còn là vấn đề luân lý nữa, mà là vấn để thuộc bản tính và ơn gọi. Nếu không nên thánh, chúng ta thất bại và là kẻ thất bại nhất trong đời. Đó là sự vong thân nền tảng. Mẹ Têrêxa đã có lý khi trả lời với một nhà báo hỏi về sự thánh thiện, mẹ nói: “Sự thánh thiện không phải là điều xa xỉ, nó là sự cần thiết.”

    Hồi tâm:

    1/ Anh chị có ý thức rằng chính chúng ta được Thiên Chúa mời gọi nên thánh, nghĩa là sống đúng với phẩm giá của mình là con cái Thiên Chúa, sống trung thực với bản chất của mình là hình ảnh của Thiên Chúa không?

    2/ So sánh ơn gọi nên thánh của mỗi người Kitô hữu giáo dân với ơn gọi làm linh mục, tu sĩ, ơn gọi nào quan trọng hơn, cao cả hơn, cần thiết hơn? Ơn gọi nào là phương tiện để phục vụ ơn gọi nào?

    3/ Có phải muốn nên thánh thì cứ phải giữ cho đúng những tập tục tôn giáo cổ truyền không (đọc kinh sớm tối, ngày Chúa nhật phải tham dự thánh lễ, v.v…)? Hay điều cốt yếu để nên thánh nằm ở chỗ khác? chỗ khác đó là chỗ nào?

    BÀI II - CANH TÂN GIA ĐÌNH THÀNH CỘNG ĐOÀN SỐNG THÁNH THỂ

    Lm. Antôn Hà Văn Minh

    Gia đình không chỉ là nơi con người sống chung với nhau, nhưng còn là nơi con người được mời gọi sống với Chúa. Trong chương trình yêu thương của Thiên Chúa, gia đình là “Hội thánh tại gia”, là mái ấm đầu tiên nơi đức tin được gieo xuống, được nuôi dưỡng và được lớn lên từng ngày. Tâm điểm của đời sống gia đình là Thánh thể, vì gia đình là một cộng đoàn yêu thương, một tình yêu được đâm chồi nẩy lộc từ Thánh Thể, vì thế, gia đình chỉ có thể thi hành đúng sứ vụ yêu thương của mình khi gia đình biến thành cộng đoàn Thánh thể.

    Gia đình là một cộng đoàn hiệp thông trong tình yêu qua việc vợ chồng trao hiến cho nhau để trở nên một, một hành vi dâng hiến bắt nguồn từ sự dâng hiến của Chúa Kitô được tỏ bày trong Thánh Thể, vì thế gia đình là không gian mẫu mực để thể hiện tính Thánh Thể trong môi trường mình hiện diện và sinh sống. Do đó việc canh tân gia đình để trở thành cộng đoàn sống Thánh Thể là điều thiết yếu để gia đình thực sự là “Giáo hội tại gia”, một cộng đoàn được hình thành từ Thánh Thể, một cộng đoàn hiệp thông trong sự sống và tình yêu[1].

    1. Canh tân sự hiệp thông trong gia đình

    Một trong những chiều kích nổi bật của Thánh Thể chính là sự hiệp thông. Có thể nói, hơn bao giờ hết gia đình đang đối diện với nhiều thách đố về sự gãy đổ trong đời sống gia đình, vì tính hiệp thông gia đình đang bị đối xử tệ bạc. Thật vậy, đứng trước trào lưu về một gia đình kiểu mẫu mới theo chủ nghĩa tự do qui ngã, người ta chỉ còn coi gia đình chỉ còn là một cấu trúc hình thức nhằm đáp ứng nhu cầu sinh học tự nhiên hơn là hướng tới một cấu trúc thánh thiêng được Chúa thiết lập, để kiến tạo một cộng đoàn hiệp thông gia đình, qua đó trình bày mối tương giao tình yêu hiệp thông giữa Chúa Kitô và Giáo hội.

    Sự hiệp thông tình yêu này được cụ thể hóa qua Bí tích Thánh Thể. Quả thật “Bí tích Thánh Thể chính là nguồn mạch của hôn nhân Kitô giáo. Hy lễ Thánh Thể diễn lại giao ước tình yêu giữa Đức Kitô và Giáo hội, vì giao ước ấy đã được ký kết bằng máu của Người trên Thập giá (x. Ga 19,34). Chính trong Hy lễ của Giao ước mới và vĩnh cửu ấy mà các đôi bạn Kitô hữu tìm được nguồn mạch tuôn trào làm cho giao ước hôn nhân của họ được khuôn đúc từ bên trong và được sinh động bền bỉ. Vì là sự diễn lại Hy lễ tình yêu của Đức Kitô đối với Giáo hội, Thánh Thể là nguồn mạch đức ái. Nơi ân huệ Thánh Thể, Bí tích của đức ái, gia đình Kitô hữu gặp được nền tảng và linh hồn cho sự hiệp thông và sứ mạng của mình: Bánh Thánh Thể làm cho những phần tử khác nhau của cộng đoàn gia đình trở nên một thân thể duy nhất, một hình ảnh diễn tả sự tham dự vào Thân mình “bị phó nộp” và vào Máu “đã đổ ra” của Đức Kitô sẽ trở nên nguồn mạch bất tận cho gia đình Kitô hữu đến múc lấy năng lực hoạt động tông đồ và truyền giáo”[2].

    Việc canh tân sự hiệp thông gia đình trước tiên khởi sự từ việc ra đi khỏi chính mình của các thành viên trong gia đình. Thánh Thể được hình thành từ việc “ra đi” này. Trước khi bước lên đỉnh đồi Canvê, Chúa Giêsu đã đứng dậy cởi áo, cởi vinh quang của Thiên Chúa, cởi địa vị Con Thiên Chúa để cúi xuống rửa chân cho các môn đệ (x Ga 13, 1-4), qua hành vi này, Chúa Giêsu dạy: “nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13, 14). Đây không đơn giản là việc rửa chân, nhưng là lời mời gọi “đi ra” khỏi chính mình để dấn thân phục vụ trong khiêm cung, một dấu chỉ của sự hiệp thông mang tính Thánh Thể. Trên Thập giá, “một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người, tức thì, máu cùng nước chảy ra” (Ga 19, 34), lưỡi đòng đâm thấu một thân xác trần truồng không một mảnh vải che thân (X Ga 19, 23). Từ tấm thân trần truồng bị đâm thâu đó, Thánh Thể nguồn mạch của sự hiệp thông được hình thành.

    Vì thế, việc canh tân sự hiệp thông gia đình chỉ có thể được hiện thực khi mỗi thành viên gia đình thể hiện tính Thánh Thể qua việc “ra đi” khỏi chính mình. Điều đó có nghĩa là mỗi người phải loại bỏ tính tự ái kiêu căng, lột bỏ “cái tôi” ích kỷ”, để biết lắng nghe lẫn nhau. Mỗi người phải chấp nhận cởi bỏ chiếc áo được dệt lên từ lòng tham lam chỉ muốn sở hữu, vun quén cho riêng mình, có cởi bỏ chiếc áo đó mỗi thành viên trong gia đình mới thực sự tiến tới hiến mình thành của lễ hy sinh làm thành tấm bánh được bẻ ra trao cho nhau, tạo nên sự hiệp thông đích thật trong gia đình. Và đó chính là sự hiệp thông Thánh Thể được thực hiện ngay chính trong gia đình.

    Thật vậy, Thánh Thể là khuôn mẫu của sự hiệp thông gia đình, khuôn mẫu đó cần được các gia đình Kitô hữu đưa vào trong gia đình mình như là mẫu mực để noi theo. Chính vì thế, sống mầu nhiệm Thánh Thể là con đường duy nhất để củng cố đời sống hiệp thông gia đình, vì Thánh Thể là “trung tâm và là chóp đỉnh của đời sống Giáo hội”[3]. Sống mầu nhiệm Thánh Thể trước tiên là lời mời gọi hiệp thông Thánh Thể. “Ai hiệp lễ, đều được liên kết chặt chẽ với Chúa Kitô. Nhờ đó, Chúa Kitô liên kết họ với các tín hữu khác thành một thân thể duy nhất là Giáo hội” (GLHTCG 1396). Trong suy tư này, chúng ta cũng có thể đưa ra kết luận là gia đình sẽ là một cộng đoàn hiệp nhất không thể phân chia khi từng thành viên trong gia đình siêng năng và sốt sắng đón nhận Thánh Thể, bởi vì “không những mỗi người chúng ta đón nhận Chúa Kitô, nhưng chính Chúa Kitô cũng đón nhận mỗi người chúng ta”[4] và qua đó Người thắt chặt chúng ta lại với Người và với nhau. Do đó sự hiệp nhất với Chúa Kitô là quà tặng và là hồng ân lớn lao cho đời sống gia đình, bởi chính nhờ sự hiệp nhất này làm cho gia đình được sung mãn trong tình yêu của Đức Kitô.

    2. Canh tân tình yêu gia đình

    Điều làm nên sự hiệp thông Thánh Thể chính là tình yêu, và cũng chính tình yêu này kiến tạo nên sự hiệp thông gia đình. Quả thật, tình yêu là nguyên lý sống động của đời sống hôn nhân gia đình, dĩ nhiên đây không là một tình yêu hời hợt, chỉ qui về chính mình, được gọi là tình yêu qui ngã, nhưng phải là tình yêu tuôn trào từ tình yêu Thánh Thể, một tình yêu hiến dâng và trao ban.

    Vâng, tình yêu Thánh Thể là một tình yêu dấn thân trọn vẹn cả thể xác lẫn tâm hồn. Nói như Gandhi: “Tình yêu bao giờ cũng hiến tặng mà chẳng bao giờ đòi đền đáp”. Đó cũng chính là con đường yêu mà Đức Kitô đã chỉ ra: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người biết hy sinh mạng sống vì bạn hữu mình” (Ga 15,13). Hy sinh mạng sống cho người mình yêu chính là con đường tình đích thật. Đức Kitô đã thể hiện tình yêu đó qua sự hiến dâng mạng sống trên Thập giá như là một giao ước của tình yêu: “Tất cả các con hãy cầm lấy mà ăn, này là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con”. “Tất cả các con hãy cầm lấy mà uống, này là Chén Máu Thầy. Máu giao ước mới, giao ước vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho các con và mọi người được tha tội. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”. Qua Giao ước này, Đức Kitô trao ban trọn vẹn tình yêu cho Giáo hội, và nhờ đó, Giáo hội trở thành Bí tích Cứu độ phổ quát, hay nói cách khác, Giáo hội trở thành không gian quy tụ những kẻ tin, trở thành cộng đoàn cứu độ. Giao ước tình yêu vợ chồng cũng nằm trong chiều kích này. Như là diễn tả mầu nhiệm tình yêu giữa Đức Kitô và Giáo hội, tình yêu vợ chồng cũng được xây dựng trên một giao ước tình yêu hiến dâng trọn vẹn, và qua giao ước này, vợ chồng trở nên một cộng đoàn cứu chuộc và yêu thương.

    Thật vậy, Đức Kitô thiết lập Bí tích Hôn nhân nhằm diễn tả tình yêu kết hợp giữa Đức Kitô và Giáo hội, “Đấng Cứu Thế, bạn trăm năm của Giáo hội, cũng đến với đôi vợ chồng qua Bí tích Hôn phối. Người còn ở lại với họ, để hai vợ chồng cũng mãi mãi trung thành yêu thương nhau bằng sự tự hiến cho nhau như Người đã yêu thương Giáo hội và đã nộp mình vì Giáo hội” (GS 48). Người chồng “hãy yêu thương vợ như Đức Kitô đã yêu thương Giáo hội và hiến mình vì Giáo hội” (Ep 5,25), còn người vợ “thì hãy kính yêu chồng mình” (Ep 5,32). Do đó nơi tình yêu Thánh thể chúng ta tìm thấy nguồn mạch tình yêu hiến dâng và trao ban trong đời sống hiệp thông của vợ chồng. “Tình yêu vợ chồng đạt tới sự sung mãn là tình yêu bác ái vợ chồng mà do bản chất, là phương thế độc đáo và riêng biệt giúp các đôi vợ chồng tham dự vào tình bác ái của Đức Kitô, Đấng trao ban chính mình trên Thập giá, và cũng nhờ đó họ được mời gọi sống tình bác ái của Người”[5]. Sự kết hợp vợ chồng là nhân chứng cho sự hiến dâng trọn vẹn giữa Đức Kitô và Giáo hội. Sự kết hợp đó “nhằm đến một sự hiệp nhất sâu xa về ngôi vị, không chỉ là một sự kết hợp thành một thân xác, nhưng là sự hiệp nhất đến độ chỉ còn một trái tim, một linh hồn; tình yêu ấy đòi hỏi sự bất khả phân ly và trung tín trao hiến cho nhau một cách dứt khoát, nó mở ngỏ cho việc sinh sản”[6].

    Việc canh tân tình yêu gia đình bắt đầu từ đời sống đạo đức của hai vợ chồng. Chính lòng đạo đức là con đường dẫn đưa các bậc gia trưởng trong gia đình đến gặp Chúa và học cách yêu như Chúa. Lòng đạo đức kiến tạo gia đình trở thành không gian gặp gỡ với Chúa, qua đó tình yêu giữa các thành viên trong gia đình sẽ được thanh luyện vượt qua được những đòi hỏi ích kỷ, những thái độ cố chấp, và sẽ học được nơi Chúa sự “hiền lành và khiêm nhường”. Gặp gỡ được Chúa, người chồng biết hy sinh cho vợ, người vợ biết cảm thông cho chồng, cha mẹ biết nhẫn nại với con cái, con cái biết hiếu thảo và kính trọng ông bà cha mẹ: đó không chỉ là những đức tính tự nhiên, mà còn là những dấu chỉ của ơn Chúa đang hoạt động.

    Có thể nói, trên hành trình dương thế, không gia đình nào tránh khỏi khó khăn: có khi là bệnh tật, nghèo túng, hiểu lầm, khủng hoảng, hoặc những vết thương âm thầm. Nhưng chính trong những lúc ấy, nếu gia đình có Chúa hiện diện, thì thử thách không còn chỉ là gánh nặng, mà còn trở thành cơ hội để đức tin được thanh luyện và tình yêu được thăng hoa.

    Đại hội lần thứ X với chủ đề “Tình yêu gia đình: Ơn gọi và Con đường nên thánh được khai mạc tại Roma vào chiều ngày 22/6/2022, đôi vợ chồng Paul và Germaine đã can đảm kể về cuộc khủng hoảng mà họ đã trải qua trong cuộc hôn nhân của mình, qua sự sẻ chia này, Đức Phanxicô đã kết luận: “câu chuyện của các bạn là một tia sáng hy vọng. Paul đã nói rằng chính trong thời khắc đen tối nhất của cuộc khủng hoảng, Chúa đã đáp lại ước muốn sâu xa nhất của trái tim anh, và cứu vãn cuộc hôn nhân của anh. Đó là những gì xảy ra. Khát khao sâu thẳm trong trái tim của mỗi người đó là: tình yêu không có hồi kết; câu chuyện tình yêu được xây dựng cùng nhau không dừng lại; và thành quả của tình yêu không bị mai một. Mọi người đều có ước muốn này. Không ai muốn một tình yêu ngắn hạn hoặc được đánh dấu bằng ngày hết hạn. Và đó là lý do tại sao chúng ta vô cùng đau khổ khi những thiếu sót, sai lầm, và tội lỗi của con người làm đắm con thuyền hôn nhân. Nhưng ngay cả giữa cơn giông tố, Thiên Chúa vẫn nhìn thấy những khát vọng trong trái tim chúng ta”[7]. Vâng chính cuộc gặp gỡ với Chúa, các gia đình khi đối diện với nhiều khó khăn, thử thách sẽ tìm được cách thế để vượt qua và làm cho tình yêu vợ chồng được củng cố.

    Kết:

    Đức Bênêđictô XVI, trong bài diễn văn kết thúc đại hội gia đình thế giới lần thứ V, vào ngày 09/7/2006 tại Valencia (Tây Ban Nha), đã nhấn mạnh: Gia đình Kitô hữu là “Hội thánh tại gia”, nơi đức tin được sống, được nuôi dưỡng bằng cầu nguyện và thực hành Kitô giáo, và cũng là nơi đầu tiên đức tin được loan báo cho con cái[8]. Vì thế, Gia đình phải là nơi chốn để Thánh Thể Chúa được cử hành cách cụ thể trong đời sống. Trước hết, mỗi bữa cơm gia đình có thể trở thành một “bàn tiệc hiệp thông”. Khi cả nhà quây quần bên nhau, không chỉ là để ăn uống, nhưng còn là để chia sẻ, lắng nghe và nâng đỡ nhau. Như trong Thánh Thể, Chúa Giêsu quy tụ mọi người nên một, thì nơi bàn ăn gia đình, mỗi thành viên cũng được mời gọi sống tình hiệp nhất, quan tâm và yêu thương nhau cách cụ thể.

    Tinh thần Thánh Thể còn được thể hiện qua công việc hằng ngày, dù nhỏ bé hay âm thầm, đều có thể trở thành của lễ dâng. Khi thi hành bổn phận trong tình yêu, và với tinh thần trách nhiệm, mỗi thành viên trong gia đình đang dâng lên Thiên Chúa chính cuộc đời mình. Như bánh và rượu được dâng trên bàn thờ trở nên Mình và Máu Chúa, thì những hy sinh, cố gắng và cả những mệt nhọc của ta cũng có thể trở nên của lễ đẹp lòng Người. Đó chính là sống Thánh Thể, và như thế ,Thánh Thể không còn chỉ là một cử hành phụng vụ được thực hiện trong nhà thờ, nhưng trở thành nhịp sống của mỗi ngày – nơi mọi tương quan, lời nói và công việc đều được thấm đượm tình yêu Thánh Thể

    Xây dựng đời sống cầu nguyện trong gia đình là đặt Thiên Chúa vào trung tâm của mọi sinh hoạt, để từng ngày sống không chỉ là chuỗi những công việc nối tiếp nhau, nhưng trở thành hành trình gặp gỡ Chúa. Đặc biệt, đời sống cầu nguyện ấy cần được quy hướng về Thánh Thể – nguồn mạch và đỉnh cao của đời sống Kitô hữu. Khi gia đình cùng nhau đọc kinh, lần chuỗi hay dâng lời cầu nguyện đơn sơ, hãy biết hướng lòng về Chúa Giêsu Thánh Thể, Đấng đang hiện diện, đang yêu thương và đang nuôi dưỡng mỗi người.

    Nếu có thể, gia đình hãy dành thời gian đến với Chúa trong giờ chầu Thánh Thể. Những giây phút thinh lặng trước Nhà Tạm hay trước Mình Thánh Chúa là những giây phút quý giá, nơi đó mỗi người học biết lắng nghe, phó thác và kín múc bình an. Và ngay cả khi không thể đến nhà thờ, gia đình vẫn có thể sống tinh thần hiệp thông thiêng liêng, bằng cách hướng lòng về Chúa, ước ao kết hiệp với Người trong tình yêu và niềm tin. Chính sự hiệp thông ấy làm cho ngôi nhà trở thành một “nhà tạm sống động”, nơi Chúa hiện diện giữa đời thường.

    Từ đời sống cầu nguyện, gia đình sẽ trở thành môi trường giáo dục con cái theo tinh thần Thánh Thể. Cha mẹ không chỉ dạy bằng lời nói, nhưng bằng chính đời sống của mình. Dạy con biết chia sẻ với anh chị em, biết hy sinh những điều nhỏ bé vì người khác, đó là gieo vào lòng con tinh thần tự hiến của Chúa Giêsu. Dạy con biết yêu mến thánh lễ, tham dự cách ý thức và sốt sắng, giúp con nhận ra Thánh Thể không chỉ là một nghi thức, nhưng là cuộc gặp gỡ sống động với Chúa. Khi trẻ em lớn lên trong bầu khí ấy, các em không chỉ trưởng thành về nhân cách, nhưng còn lớn lên trong đức tin. Và chính gia đình, nhờ đời sống cầu nguyện và giáo dục theo tinh thần Thánh Thể, sẽ trở thành một cộng đoàn nhỏ sống động, nơi tình yêu của Thiên Chúa được hiện diện và lan tỏa mỗi ngày. Với tinh thần canh tân này, gia đình thực sự đang thể hiện cách sống Thánh Thể, nhờ đó gia đình trở thành người môn đệ thừa sai, chiếu tỏa ánh sáng Tin mừng đến các gia đình chung quanh.

    Hồi tâm:

    1/ Gia đình chúng ta đang gặp những khó khăn nào trong việc sống sự hiệp thông (lắng nghe, tha thứ, chia sẻ)? Làm thế nào để tinh thần Thánh Thể giúp chữa lành những rạn nứt đó?

    2/ Tình yêu trong gia đình hiện nay có đang mang tính “trao ban – hy sinh” như Thánh Thể, hay còn mang tính ích kỷ, đòi hỏi? Mỗi người có thể thay đổi cụ thể điều gì từ hôm nay?

    3/ Gia đình có thể làm gì cụ thể để đưa Thánh Thể vào đời sống hằng ngày (bữa cơm, cầu nguyện, tham dự thánh lễ, hy sinh nhỏ bé)?

    BÀI III - ĐÀO LUYỆN NHÂN CÁCH: NỀN TẢNG CHO CHỨNG TÁ ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU

    Lm. Giuse Nguyễn Ngọc Ngoạn

    Trong hành trình làm người nơi trần gian, nhân cách là yếu tố cốt lõi định hình phẩm giá và lối sống của mỗi cá nhân. Đối với người Kitô hữu, nhân cách không chỉ dừng lại ở sự trưởng thành tự nhiên, mà còn phản ánh hình ảnh của Thiên Chúa nơi con người. Vì thế, việc đào luyện nhân cách trở thành nền tảng thiết yếu cho đời sống chứng tá, giúp mỗi người trở nên “ánh sáng cho trần gian” và “muối cho đời” (Mt 5,13-14).

    Nhân cách là sự hòa hợp giữa các yếu tố tâm lý, sinh lý, đời sống đạo đức và cách ứng xử trong đời sống hằng ngày. Đặc biệt, nhân cách có mối liên hệ chặt chẽ với đời sống thiêng liêng. Đời sống thiêng liêng không tách rời bản tính tự nhiên, nhưng nâng đỡ, kiện toàn và thánh hóa nhân cách. Ân sủng của Thiên Chúa không thay thế con người, nhưng làm cho con người trở nên trọn vẹn hơn. Nếu thiếu nền tảng nhân bản, đời sống đạo rất dễ rơi vào hình thức hoặc giả tạo.

    Một nhân cách tốt chính là mảnh đất màu mỡ để hạt giống đức tin nảy mầm và phát triển. Vì thế, trước khi trở thành một Kitô hữu tốt, mỗi người cần học cách trở thành một con người đúng nghĩa. Nhân cách Kitô hữu là sự trưởng thành toàn diện cả về nhân bản lẫn thiêng liêng, được xây dựng trên nền tảng đức tin và tình yêu. Người Kitô hữu được mời gọi noi gương Đức Kitô, Đấng đã hiến mình vì yêu thương nhân loại.

    Kinh thánh nhiều lần nhấn mạnh lời mời gọi hoàn thiện nhân cách: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5, 48). Thánh Phaolô cũng khẳng định rằng đời sống nhân cách được sinh hoa trái từ Thần Khí: “Hoa trái của Thần Khí là bác ái, hoan lạc, bình an…” (Gl 5, 22-23). Giáo huấn của Hội thánh cũng cho thấy nhân cách Kitô hữu gắn liền với nhân phẩm và tự do; việc đào luyện nhân cách chính là hành trình nên thánh, là sự cộng tác với ân sủng của Thiên Chúa để đạt tới sự hoàn thiện.

    Nhân cách là cánh cửa dẫn vào đời sống Tin mừng. Người khác thường nhìn vào cách sống của Kitô hữu trước khi lắng nghe lời rao giảng. Một nhân cách khiếm khuyết có thể làm lu mờ hình ảnh Thiên Chúa và trở thành rào cản cho đức tin của người khác.

    Để xây dựng nhân cách trưởng thành, mỗi người cần thực hành những đức tính căn bản trong đời sống hằng ngày, như:

    - Tám đức tính truyền thống: Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Trí, Tín, Dũng, Nhân.

    - Bảy ơn Chúa Thánh Thần: Khôn ngoan, Thông hiểu, Lo liệu, Sức mạnh, Suy biết, Đạo đức, Kính sợ.

    - Mười hai hoa trái Thần Khí: Bác ái, Hoan lạc, Bình an, Nhẫn nại, Nhân từ, Lương thiện, Hiền hòa, Trung tín, Khiêm nhu, Tiết độ, Khoan dung, Thanh khiết.

    Trong cuộc sống, người Kitô hữu được mời gọi biết biện phân, nhận ra điều tốt-xấu để lựa chọn con đường thiện lành. Cần can đảm sống theo Lời Chúa, kiên trì trong thử thách, và trung thành với chân lý. Đồng thời, mỗi người phải biết sống tiết độ, làm chủ bản thân, sử dụng của cải cách hợp lý; sống trung thực, liêm chính với bản thân, tha nhân và Thiên Chúa; sống khiêm nhường và phục vụ theo gương Chúa Giêsu. Đặc biệt, phải thực hành giới luật yêu thương và tha thứ: “Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha” (Lc 6, 37).

    Việc đào luyện nhân cách đòi hỏi sự rèn luyện nội tâm qua cầu nguyện, xét mình, lãnh nhận các bí tích và lắng nghe Lời Chúa. Đồng thời, con người không sống tách biệt mà luôn gắn bó với gia đình, xã hội và cộng đoàn. Qua các mối tương quan, chúng ta học cách hiệp thông, chia sẻ, nâng đỡ và sống bác ái. Những khó khăn, thử thách trong cuộc sống cũng là cơ hội để trưởng thành, giúp ta kiên nhẫn và thêm tin tưởng vào tình yêu quan phòng của Thiên Chúa.

    Nhân cách chính là nền tảng cho đời sống chứng tá Tin mừng. Người Kitô hữu không chỉ rao giảng bằng lời nói, mà còn bằng chính đời sống của mình. Một nhân cách tốt đẹp là lời chứng sống động và thuyết phục nhất.

    Chứng tá Tin mừng được thể hiện qua sự chân thật, sự nhất quán giữa lời nói và việc làm, cũng như qua đời sống yêu thương và phục vụ tha nhân. Giữa một thế giới còn nhiều sự dữ và tội lỗi, người Kitô hữu được mời gọi làm chứng bằng một đời sống nhân cách trưởng thành và thánh thiện.

    Đào luyện nhân cách là một hành trình suốt đời, đòi hỏi sự kiên trì và cộng tác với ân sủng Thiên Chúa. Một nhân cách trưởng thành không chỉ giúp mỗi người nên hoàn thiện, mà còn trở thành dấu chỉ sống động của tình yêu Thiên Chúa giữa thế giới hôm nay. Như Thánh Irênê đã nói: “Vinh quang của Thiên Chúa là con người sống dồi dào.” Noi gương Chúa Giêsu, mỗi người được mời gọi lớn lên “trong khôn ngoan và ân nghĩa trước mặt Thiên Chúa và mọi người” (Lc 2, 51-52).

    Hồi tâm:

    1/ Trong đời sống hằng ngày, bạn có sống nhất quán giữa đức tin và cách cư xử của mình không, hay vẫn còn những lúc sống hình thức, thiếu chân thật?

    2/ Bạn đang rèn luyện những đức tính nào để trưởng thành nhân cách (trung thực, khiêm nhường,…), và đâu là điểm yếu bạn cần quyết tâm sửa đổi?

    3/ Bạn có thực sự noi gương Chúa Giêsu trong cách yêu thương, phục vụ và tha thứ cho người khác, nhất là với những người làm bạn tổn thương không?

    BÀI IV - HOÁN CẢI TỪNG NGÀY: NHỮNG BƯỚC NHỎ, CỤ THỂ VÀ BỀN BỈ

    PX. Nguyễn Thái

    Trong cuộc sống hiện đại đầy biến động, khi thế giới bị cuốn theo trào lưu vật chất, quyền lực và hưởng thụ, con người dễ dàng rơi vào vòng xoáy tội lỗi, ích kỷ và thậm chí bạo lực. Chúng ta chứng kiến biết bao gia đình tan vỡ, các mối quan hệ rạn nứt, xã hội dần mất đi những giá trị nhân bản quý giá. Trong cảnh tượng mờ mịt đó, lối sống nhân từ, khiêm nhường, hy sinh và yêu thương có vẻ như một ánh sáng le lói khó nhận ra.

    Thế nhưng, lời mời gọi nên thánh vẫn vang vọng không ngừng trong tâm hồn mỗi người Kitô hữu, nhất là qua lời Thánh Phaolô: “Trong Đức Kitô, Người đã chọn chúng ta trước khi tạo dựng vũ trụ, để chúng ta trở nên tinh tuyền, thánh thiện trước mặt Người, nhờ tình thương của Người” (Ep 1,4).

    Có thể chúng ta đã nghe đi nghe lại những lời này, nhưng khi cuộc sống bộn bề với muôn vàn cám dỗ, lời mời gọi ấy dễ dàng trở thành tiếng vọng mờ nhạt, dễ bị lãng quên. Trên thực tế, ơn gọi nên thánh mà Thiên Chúa trao ban không phải là điều viển vông xa xôi, mà là hành trình đi từng bước nhỏ, cụ thể, kiên trì và bền bỉ. Thiên Chúa mời gọi từ thời ông Ápraham: “Ngươi hãy bước đi trước mặt Ta và hãy sống hoàn hảo” (St 17,1), nghĩa là hãy sống đời thánh thiện, không chấp nhận sự tầm thường hay những thói xấu của thế gian.

    Chúng ta cùng suy niệm ba bước nhỏ trong hành trình hoán cải mỗi ngày, để mỗi người có thể đáp trả ơn gọi nên thánh một cách thực tiễn và sâu sắc.

    1. Hoán cải bằng việc nhận ra bản thân mình cần thay đổi

    Bước khởi đầu của hoán cải lànhận ra bản thân còn nhiều yếu đuối và lỗi lầm cần sửa đổi. Đây là thái độ dám đối diện vớisự thật bên trong mình, thay vì chối bỏ hay biện minh cho những điều chưa hoàn thiện. Thánh Phaolô dạy chúng ta:“Anh em hãy biến đổi nhờ việc đổi mới tâm trí mình” (Rm 12,2).

    Sự đổi mới tâm trí ấy không đến bằng phép màu, mà là kết quả của việc ý thức từng ngày từng giờ về suy nghĩ, lời nói và hành động của mình. Nhận ra giới hạn giúp ta tránh sa vào kiêu ngạo và tự phụ. Khiêm tốn nhận lỗi là cánh cửa để Thiên Chúa tiến vào chữa lành và đổi mới tâm hồn sâu thẳm. Như ông Ápraham đã được Thiên Chúa mời gọi bước đi trong sự thật và thánh thiện, mỗi ngày chúng ta cũng được mời gọi soi mình trong ánh sáng Lời Chúa và Thánh Thể để nhận biết những bước cần sửa.

    2. Hoán cải qua những bước nhỏ, cụ thể trong đời sống

    Hoán cải không phải là một cú nhảy vọt, mà là hành trình kiên nhẫn đi từng bước nhỏ cụ thể trong đời sống hằng ngày. Tha thứ cho người khác, giữ lòng nhân hậu, sống khiêm nhu trong giao tiếp, trung thực trong công việc, siêng năng cầu nguyện… tất cả những điều nhỏ bé này như viên gạch xây nên đời sống thánh thiện. Đức Giêsu dạy: “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48).

    Lời mời gọi ấy không chỉ dành cho một vài người nhưng cho tất cả chúng ta trong tiến trình không ngừng nghỉ. Trong xã hội hiện đại ngày nay, điều quan trọng là ta lựa chọn những việc làm nhỏ bé nhưng mang đậm giá trị tâm linh: nhẫn nại với người thân khó tính, sẵn sàng giúp đỡ người nghèo, tôn trọng sự sống và bảo vệ công lý. Mỗi bước đi dù nhỏ bé ấy là hạt giống gieo vào mảnh đất tâm hồn, để Tin mừng được sống động giữa thế gian, để Thánh Thần hoạt động và thánh hóa từng người.

    3. Hoán cải bằng sự bền bỉ trong khó khăn

    Hành trình nên thánh không tránh khỏi những thử thách, đau khổ và thất vọng. Chính lúc đó ta được mời gọi bền lòng, xác tín nơi Thiên Chúa và yêu mến Người nhiều hơn. Thánh Phaolô khích lệ: “Anh em hãy kiên tâm bền chí, và càng ngày càng tích cực tham gia vào công việc của Chúa" (1Cr 15,58a).

    Dù ta thất bại, gục ngã vì tội lỗi hay bất cứ điều gì, Thiên Chúa vẫn luôn mời gọi ta đứng lên bước tiếp trong niềm tin. Sự kiên trì từng ngày trong cầu nguyện, trong việc thực hành đức ái và hy sinh sẽ tạc nên tâm hồn thánh thiện bền vững. Thiên Chúa biến đổi ta, không chỉ qua những chiến thắng lớn lao, mà còn qua những nỗ lực âm thầm, đơn sơ chịu khó giữ lấy bước chân nhỏ bé đi theo Ngài.

    Chứng nhân

    Hơn hai mươi năm trước, tôi hiếm khi nghe nói đến “hoán cải”; có thể cũng nghe nhưng chỉ vô tình trôi qua tai. Từ khi sinh hoạt trong các hội đoàn, tôi nghe nhiều hơn, thấm dần và sống với lời mời gọi ấy. Mỗi tối, tôi dành ít phút hồi tâm, nhìn lại ngày qua: tôi đã cầu nguyện ra sao? Tôi có hy sinh cho ai đó trong giáo xứ không? Tôi có thăm viếng người nghèo, kiềm chế cơn giận dữ, hay làm việc bác ái cho người có hoàn cảnh khó khăn? Tôi đã dứt bỏ những ý nghĩ không phù hợp với ý Chúa?

    Nếu ngày nào đọc kinh gia đình, tôi chỉ gợi ý từng thành viên tự hỏi: hôm nay tôi đã làm gì đẹp lòng Chúa và tha nhân? Điều gì lại làm mất lòng Chúa và gây tổn thương cho anh em? Tôi tin rằng, nhờ ý thức và thực hành hoán cải từng ngày trong những công việc nhỏ trong gia đình, cộng đoàn và bằng sự bền bỉ từng bước, tôi cảm nhận tình yêu Chúa ngày càng sâu đậm hơn và tôi gần gũi Ngài hơn từng ngày.

    Cầu nguyện:

    Lạy Chúa, ơn gọi nên thánh là ơn gọi sống một cuộc đời được Chúa tuyển chọn, yêu thương và thánh hóa từng ngày. Ơn gọi đó không dành riêng cho các thánh trong lịch sử nhưng là cho từng người chúng con, qua những bước chân nhỏ bé, kiên trì và cụ thể trong đời sống hằng ngày.

    Xin cho mỗi người chúng con ý thức rằng không thể nên thánh nếu thiếu ơn Chúa, như lời Đức Giêsu dạy:"Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được" (Ga 15,5).

    Xin cho Lời Chúa luôn soi sáng bước đường chúng con, Thánh Thể nuôi dưỡng tâm hồn, Thánh Thần dẫn dắt từng quyết định, để mỗi bước chân nhỏ bé hôm nay kết thành một hành trình nên thánh trọn vẹn.

    LạyMẹ Maria, Mẹ của sự hoán cải, xin đồng hành cùng chúng con để đừng nản lòng giữa những thử thách, mà mỗi ngày qua những bước chân khiêm nhường, bền bỉ, chúng con biết sống đẹp lòng Thiên Chúa và làm chứng nhân sáng ngời giữa đời.

    Hồi tâm:

    1/ Bạn đã từng suy nghĩ về việc hoán cải để nên thánh chưa? Bạn chọn làm những việc nhỏ bé nào cụ thể?

    2/ Bạn có thực hành đều đặn không? Khi gặp khó khăn, bạn lấy sức mạnh và niềm tin từ đâu để đứng dậy đi tiếp?

    3/ Bạn có dành thời gian hồi tâm mỗi ngày để nhìn lại hành trình hoán cải của mình không?


    [1] X. Đức Gioan Phaoô II, Tông huấn “Familiaris consortio”, số 50.

    [2] Nt, số 56.

    [3] Đức Gioan Phaolô II, Thông điệp “Ecclesia de eucharistia”, số 31.

    [4] Nt, số 22.

    [5] Đức Gioan Phaoô II, Tông huấn “Familiaris consortio, số 13.

    [6] Nt.

    [7] Đức Phanxicô, Huấn dụ dành cho Các gia đình nhân Đại hội Gia đình Thế giới lần thứ X (22 – 26/6/2022), Nguồn: Vatican.va

    [8]Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng Thánh lễ bế mạc Đại hội Gia đình Thế giới lần V của Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI tại Valencia (09/7/2006), nguồn: https:/opusdei.org/en/article/homily-of-the-pope-in-the-mass-closing-the-fifth-world-meeting-of-families/?utm_source=chatgpt.com

    Nguồn: hdgmvietnam.com

    Bài viết liên quan