Một số ca vãn và kinh nguyện tôn kính Đức Maria

  • 24/10/2026
  • Bài viết giới thiệu các bài ca vãn và lời kinh quen thuộc tôn kính Đức Mẹ trong Hội Thánh, từ những bài cổ xưa như Trông Cậy (Sub tuum praesidium), Kinh Hãy Nhớ đến bài Lạy Nữ Vương (Salve Regina). Qua từng lời kinh giản dị, chúng ta cùng cảm nhận tình thương của Mẹ và tấm lòng đơn sơ, cậy trông của con cái dành cho Mẹ qua bao thế hệ.

    Lòng sùng kính Đức Mẹ đã thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau suốt các thế kỷ. Giáo Hội Đông phương vẫn còn nhiều bài thánh ca, nhưng nổi bật nhất là Thánh thi Akathistos sẽ được trình bày ngắn gọn dưới đây. Còn tại Tây phương, lòng sùng kính Đức Mẹ phát triển chậm hơn khi mãi đến đầu thế kỷ XI, các thánh ca, thánh thi, bài giảng, văn bản phụng vụ và phi phụng vụ mới bắt đầu nở rộ. Hai thánh thi (hay thánh ca) nổi tiếng là Alma Redemptoris Mater và Salve Regina nằm trong giai đoạn này, đặc biệt bài Salve Regina vẫn còn rất phổ biến đến tận ngày nay và trở thành văn bản phụng vụ được hát sau giờ Kinh Tối, thường trong lúc kiệu tượng Đức Mẹ. Cùng với hai thánh thi khác sẽ được trình bày, ba bài này đã được Đức Giáo hoàng Piô V quy định hát sau các giờ Kinh Sáng và Kinh Chiều trong bản hiệu đính Phụng Vụ Các Giờ Kinh năm 1568, với các quy định như sau: Thánh thi Alma Redemptoris được hát từ Mùa Vọng đến ngày 2 tháng 2; Thánh thi Ave Regina caelorum được hát từ sau ngày 2 tháng Hai đến hết Mùa Chay (trừ Tam Nhật Thánh); Thánh thi Regina caeli được hát từ Chúa Nhật Phục Sinh đến Lễ Ngũ Tuần. Thánh thi Salve Regina cho phần thời gian còn lại của năm. Trong nghi lễ của Dòng Xitô và Dòng Đa Minh thì bài Salve Regina được hát quanh năm.

    Trong cuộc cải tổ Phụng vụ Các Giờ Kinh sau Công Đồng Vatican II, ngoài thánh thi Regina Caeli, ba bài còn lại có thể được hát vào bất kỳ thời điểm nào trong năm. Lúc này có thêm một số bài hát tùy chọn. Theo luật Phụng vụ hiện hành, những bài hát này chỉ buộc sau giờ Kinh Tối, nhưng dường như chúng cũng có thể được hát sau giờ Kinh Chiều, nhất là khi có giáo dân tham dự, và cũng có thể hát khi tổ chức rước kiệu về Nhà nguyện hoặc đền thờ Đức Mẹ như thường thấy vào thời Trung Cổ.

    Sau đây là một số chú giải về bốn bài ca này (là những bài ca xét theo nghĩa được sử dụng đến hiện nay).

    Alma Redemptoris Mater[1]

    Tôi mượn bản văn từ sách Westminster Hymnal (1940), một bản dịch khá phóng khoáng (số 261a).

    Lạy Mẹ Đấng Cứu Chuộc! xin nghe tiếng con dân khẩn cầu,

    Ngôi sao biển cả, cửa thiên đàng rộng mở!

    Mẹ của Người đã dựng nên Người từ hư vô,

    Chúng con chìm đắm, gắng sức kêu xin Mẹ cứu giúp:

    Ôi, nhờ niềm vui Gáprien đã mang đến cho Mẹ,

    Là Trinh Nữ đầu tiên và cuối cùng, xin cho chúng con được chiêm ngưỡng lòng thương xót của Mẹ.

    Dòng đầu tiên bỏ qua từ Alma – một từ mang ý nghĩa trìu mến, những từ này có lẽ thích hợp hơn khi dịch là “thân thương” hoặc “yêu dấu”. Mượn ý từ Ave maris stella, ta có “kính chào ngôi sao biển cả”. Cụm từ “cửa thiên đàng” che giấu phần nào ý nghĩa. Từ Latinh caeli mang nghĩa là “thiên đường”, không phải “bầu trời”, và cụm từ này có nghĩa là: Đức Maria là cửa ngõ để Chúa Giêsu đến thế gian, và Mẹ cũng là “cánh cửa” để chúng ta có thể đến gần Thiên Chúa. Đây là chủ đề cổ xưa đã xuất hiện từ thời Thánh Irênê (+ khoảng năm 200), ít nhất là phần đầu. Bản văn tiếp tục với phần trình bày: Chúng con chìm đắm, gắng sức kêu xin Mẹ cứu giúp. Trong tiếng Latinh có sự chơi chữ giữa Eva và Ave, một lần nữa nói lên chủ đề cổ xưa: Mẹ Maria được xem như người đảo ngược sự bất tuân của Eva. Nhưng rất khó để chuyển sang tiếng Anh mà không có những chỉnh sửa phức tạp. Mẹ Maria đồng trinh (prius và posterius) trước và sau khi sinh Chúa Giêsu. Để kết thúc, chúng ta cầu xin Mẹ “thương xót” chúng ta, và nếu từ đó có vẻ quá mạnh với một số người, chúng ta hoàn toàn có thể dịch nó là “đoái thương”. Một vài nhận định không đủ khả năng thể hiện hết được vẻ đẹp thi ca của bài thánh ca bằng tiếng Latinh, nhưng có thể giúp những ai muốn hát nó bằng tiếng Latinh với giai điệu trang nghiêm mang đầy cảm xúc, hoặc theo bản phổ nhạc nổi tiếng của Palestrina. Bài thánh ca này được cho là của Herman the Cripple (Contractus), người đã mất năm 1054, nhưng không có đủ bằng chứng để chứng minh điều này. Tuy nhiên, có lẽ đây là một trong những bài thánh ca kính Đức Mẹ sớm nhất.

    Ave, Regina Caelorum[2]

    Đây là bài thánh ca ngắn nhưng đầy chất thơ, thực tế được sử dụng như một điệp ca trong giờ Kinh Chiều vào ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Tuy không rõ tác giả, nhưng bài ca này đã được sử dụng từ thế kỷ XII. Trong Westminster Hymnal, được dịch là:

    Kính chào đức Nữ Vương Thiên Đàng ngự trị!

    Kính chào Đấng được muôn thiên thần tôn kính, Đấng Cội nguồn Giesê! Cửa hừng đông!

    Từ nơi Mẹ ánh sáng thật của thế gian đã sinh ra:

    Trinh Nữ vinh quang, niềm vui của Người, tuyệt mỹ nhất trên thiên đàng ai cũng thấy.

    Xinh đẹp nhất giữa muôn người đẹp!

    Xin cầu cùng Chúa tha thứ tội lỗi chúng con.

    Không cần nhiều lời để giải thích. Mẹ Maria là Nữ Vương Thiên Đàng và của đạo binh thiên thần, nhưng nguồn gốc của Mẹ lại thuộc về trần gian. Theo truyền thống, Mẹ thuộc dòng dõi vua Đavít, mà cha của Đavít là Giesê. Mẹ là “cửa hừng đông” vì đã sinh ra “ánh sáng thật của thế gian” là Đấng Cứu Thế. Trong tiếng Latinh, bài thánh ca kết thúc bằng “pro nobis Christum exora”; người dịch đã mở rộng câu này để phù hợp với vần điệu, nhưng theo nguyên bản Latinh, chúng ta có thể tin chắc rằng Mẹ Maria cầu nguyện cho chúng ta trong mọi nỗi khốn cùng.

    Regina caeli (W. H. 263)[3]

    Vào khoảng cuối thế kỷ XII hoặc đầu thế kỷ XIII, bài này được dùng như một điệp ca trong Kinh Chiều mùa Phục Sinh, và được các tu sĩ Phanxicô phổ biến khi đưa vào Kinh Thần Vụ như bài thánh ca mừng Phục Sinh vào thế kỷ XIV, với nhiều câu Halleluia có lẽ đã được thêm vào lúc đó. Nếu bỏ đi những chữ Halleluia đó, bài ca này sẽ rất ngắn và chỉ thực sự sống động khi được hát lên với giai điệu trang nghiêm.

    Lạy Nữ Vương Thiên Đàng hãy vui mừng – Alleluia
    Vì đấng Mẹ đã đáng cưu mang trong lòng – Alleluia

    Người đã sống lại thật như lời đã phán hứa – Alleluia
    Xin cầu cùng Chúa cho chúng con – Alleluia

    Ý nghĩa tường minh là tất cả những gì người ta có thể làm là chỉ vào cụm từ “xứng đáng lãnh nhận”. Cụm từ này được dịch từ tiếng Latinh là “meruisti” mà trong trong Kitô giáo, từ này không mang sắc thái “xứng đáng”. Chính nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần, Đức Maria đã được ban ơn để sinh hạ Con Thiên Chúa.

    Salve Regina[4]

    Lạy Nữ Vương, Mẹ nhân lành

    làm cho chúng con được sống, được vui, được cậy.

    Thân lạy Mẹ, chúng con, con cháu Eva

    ở chốn khách đầy, kêu đến cùng Bà;

    Chúng con ở nơi khóc lóc than thở kêu khấn Bà thương.

    Hỡi ôi! Bà là Chủ bầu chúng con, xin ghé mặt thương xem chúng con.

    Đến sau khỏi đày, xin cho chúng con được thấy Đức Chúa Giêsu,

    Con lòng Bà gồm phúc lạ.

    Ôi khoan thay, nhân thay, dịu thay, Thánh Maria trọn đời đồng trinh.

    Nhiều tác giả khác nhau đã được gán cho bài thánh ca này qua các thời kỳ, nhưng không có chứng cứ xác thực. Một điều chắc chắn là thánh Bênađô không phải là tác giả (vì bài ca này đã có trước thời của ngài) và cũng không đủ bằng chứng để cho rằng tác giả là Giám mục Adhémar của Le Puy. Chỉ biết rằng Salve Regina đã xuất hiện vào những thập niên cuối thế kỷ XI, và có lẽ tác giả đã viết cả lời lẫn nhạc. Giai điệu trang trọng (rõ ràng là truyền thống vì có biến thể trong các sách nhạc của dòng Benedictine, Cistercian và Rôma) rất cảm động. Khi được hát dưới ánh chiều tà trong nhà thờ đan viện trước tượng Đức Mẹ, bài ca này chạm đến sâu thẳm con tim. Bản mà hầu hết mọi người biết với giai điệu khá đơn giản thì lại ít ấn tượng hơn và người viết không rõ nguồn gốc.

    Người Kitô hữu hướng về Đức Maria là Nữ Vương đầy lòng thương xót, và tìm kiếm sự nâng đỡ của Mẹ. Dường như từ “Mater” (Mẹ) không có trong các văn bản cổ nhất, nhưng chắc chắn việc thêm vào từ này làm dòng đầu trôi chảy hơn. Ở dòng thứ hai, bản văn Carthusian có thêm “ducedo vitae” (sự ngọt ngào của đời con) thay cho “vita, dulcedo” để làm dịu ý nghĩa một cách rõ ràng: Đức Maria là “sự sống” của ta theo nghĩa nào? Khó có thể giải thích nên dòng Carthusian đã sửa cho dễ hiểu: Khi chiêm ngưỡng Mẹ Maria là “niềm dịu ngọt”, là nguồn vui, là sự an ủi của chúng ta. Tuy nhiên, đây là thay đổi dường như không được các tác giả của các văn bản khác ủng hộ.

    Tiếng kêu van của người Kitô hữu thống thiết: Ad te clamamus... ad te suspiramus. Chúng ta ý thức rằng ở chốn lưu đầy này không có thành trì vĩnh cửu (Hr 13,14). Khi còn ở thế gian này, chúng ta đang ở trong thung lũng nước mắt (Tv 83,7). Vì vậy, chúng ta nài xin Đức Nữ Vương đầy lòng thương xót, vị Trạng Sư Cầu Thay Nguyện Giúp đưa mắt nhân hậu đến chúng ta và chỉ cho chúng ta thấy Chúa Giêsu, hoa trái phúc lạ từ lòng Mẹ. Lời cầu kết thúc bằng tiếng thở dài: “Ôi khoan thay, nhân thay, dịu thay, Thánh Maria trọn đời đồng trinh” (Từ “đồng trinh” rõ ràng là phần bổ sung sau).[5]

    Stabat Mater[6]

    Bài thánh ca từng rất phổ biến này được viết như một bài thơ vào cuối thế kỷ XIII, chịu ảnh hưởng rõ rệt tinh thần của Dòng Phanxicô. Tác giả của bài thơ thường được gán cho tu sĩ Jacopone da Todi (ở Umbria), nhưng hiện nay giới học giả nghiêng về giả thiết tác giả là thánh Bonaventura. Khi lễ Bảy Sự Thương Khó Đức Mẹ được đưa vào Lịch Rôma đầu thế kỷ XVIII, bài ca này được chọn làm Ca Tiếp Liên trong Thánh Lễ (hát sau bài đọc I) và trong nhiều phần của các Giờ Kinh Phụng Vụ. Hiện nay Stabat Mater là phần tùy chọn trong Thánh Lễ.

    Một thời, người ta dùng bài ca này làm kinh nguyện tôn kính Đàng Thánh Giá và hát một đoạn sau mỗi chặng. Khi lòng sùng kính ấy suy giảm, bài thánh ca cũng mất dần sự nổi tiếng và có lẽ nhiều tín hữu Công giáo không hề biết đến. Có nhiều bản dịch tiếng Anh, nổi tiếng nhất là bản dịch bắt đầu bằng “At the cross her station keeping”. Ngoài ra còn có một bản dịch khác của Westminster Hymnal (số 37), bởi cố Đức ông R. A. Knox.

    Ave maris stella[7]

    Bài thánh ca trữ tình này có lẽ là bài ca kính Đức Mẹ cổ xưa nhất của Giáo Hội Latinh, có lẽ được viết vào thế kỷ IX và giữ được sự nổi tiếng từ đó cho đến nay. Danh hiệu “maris stella” hay “stella maris” (sao biển) hấp dẫn nhiều thủy thủ. Có lẽ “stella maris” xuất hiện lần đầu trong bài thánh ca này. Đã có nhiều bản dịch, trong đó bản của Cha E. Caswall (+1878) đáng chú ý. Đoạn đầu như sau:

    Hỡi Ngôi Sao của đại dương

    Cổng chính của Thiên​ Đàng

    Đấng mãi mãi Đồng Trinh

    Của Thiên Chúa tối cao

    Ôi lời chào mừng của Thiên sứ Gáprien

    đã thốt ra từ xưa

    Tên của Ave đọc ngược,

    Củng cố hòa bình dưới thế

    Có thể thấy rõ những chủ đề truyền thống ở đây đề cập đến Đức Maria là Cửa Thiên Đàng, qua đó Đấng Cứu Thế đã đến thế gian, và Mẹ chuyển cầu để chúng ta một mai được về thiên quốc. Lối chơi chữ thường thấy giữa Ave (trong Kinh kính mừng) và Eva: sự vâng phục của Maria đã đền bù cho sự bất tuân của Eva.

    Khổ thứ tư là một đoạn Latinh ngắn gọn và thanh nhã:

    Monstra te esse Matrem,

    Sumat per te preces Qui pro nobis natus

    Tulit esse tuus.

    Được dịch như sau:

    Ngài là Mẹ của chúng con

    dâng lên Chúa những tiếng thở dài thay cho chúng con

    Ngài sẽ không chê bỏ.

    Dòng cuối này có lẽ không được hay lắm: bản Latinh cho ta thấy Con Thiên Chúa đáp lại sự ưng thuận của Đức Maria khi Ngôi Lời đồng ý được sinh ra bởi Mẹ. Xét về khía cạnh này thì R. A. Knox có bản dịch hay hơn:

    “Xin dâng lên Chúa Kitô lời cầu nguyện của chúng con. Chúng con xin vâng lời Mẹ là Đấng đã cưu mang Chúa Cứu Thế” (Xem W. H. số 101). Toàn bộ bài thánh ca, dù ngắn, rất hợp cho việc cầu nguyện.

    Dĩ nhiên, còn nhiều bài thánh ca kính Đức Mẹ khác, mặc dù không có sáng tác nào mang đến sự mới mẻ, nhưng nếu xét cả những bài thánh ca ngoài phụng vụ, thì cũng có những bài thực sự hay. Quả là khá ngạc nhiên khi thời gian này đang thiếu vắng các thánh ca bình dân xuất sắc.

    Sub tuum presidium[8]

    Lời cầu nguyện này dường như không còn được biết đến rộng rãi như trước kia, nên tôi xin trích nguyên văn Latinh và bản dịch.

    Sub tuum praesidium confugimus,

    Sancta Dei Genetrix,

    nostras deprecationes ne despicias in necessitatibus,

    sed a periculis cunctis libera nos semper,

    Virgo gloriosa et benedicta.

    Chúng con trông cậy rất thánh Đức Mẹ Chúa Trời,

    xin chớ chê chớ bỏ lời chúng con nguyện,

    trong cơn gian nan thiếu thốn, Đức Nữ Đồng Trinh hiển vinh sáng láng.

    Xin hằng ở cùng chúng con,

    ôi Trinh Nữ vinh hiển và đầy ơn phúc.

    Trong khoảng một trăm năm qua, hàng ngàn mảnh giấy cổ đã được phát hiện, chủ yếu ở Ai Cập, trong số đó có một mảnh hiện được lưu giữ tại Thư viện John Rylands ở Manchester, có ghi lời cầu nguyện trên bằng tiếng Hy Lạp. Giới học giả cũng tranh luận về niên đại của lời kinh này. Có người cho rằng bài ca này ra đời từ thế kỷ IV hay thậm chí thế kỷ V, số khác lại cho là thế kỷ III. Nhưng giờ đây, dường như các học giả đã thống nhất rằng Sub tuum presidium ra đời vào thế kỷ III, khoảng năm 250. Lý do gây nên sự bất đồng là sự hiện diện của từ Theotokos, được dịch sang Latinh là Dei Genetrix. Nhưng danh hiệu Theotokos (với tất cả hàm ý) chỉ được định tín tại Công Đồng Êphêsô năm 431. Tuy nhiên, Theotokos đã được sử dụng trước thời điểm đó. Danh hiệu này phổ biến trong Giáo Hội Alexandria vào thế kỷ IV và xuất hiện trong bài giảng của Thượng phụ Proclus thành Constantinople năm 428/429 (xem ví dụ trong sách Kinh Phụng Vụ, tập III, tr. 526, một phần bản dịch) và mang tính truyền thống. Sớm hơn nữa, giữa thế kỷ III, Theotokos đã được một văn sĩ Kitô giáo là Origen (+254) sử dụng. Không còn nghi ngờ gì nữa, đây là lời cầu nguyện lâu đời nhất dâng lên Đức Maria Theotokos, Người Mang Thiên Chúa, hay như tiếng Latinh ta vẫn gọi là Mẹ Thiên Chúa.

    Các chuyên gia cho biết nguyên bản Hy Lạp có nhịp điệu. Như ta thấy, chủ ngữ của lời cầu nguyện được sử dụng ở ngôi thứ nhất số nhiều. Điều này cho thấy Sub tuum presidium không đơn thuần là lời cầu nguyện riêng tư mà còn là của cả một cộng đoàn.

    Như vậy, dường như đây là lời mà chúng ta gọi là lời nguyện phụng vụ. Cụm từ cuối, Virgo gloriosa et benedicta, là phần thêm vào của người dịch bản văn Latinh. Trong Giáo Hội Latinh, Sub tuum presidium thường được dùng làm điệp ca cho kinh cầu Loreto và có thể dùng sau Kinh Tối. Ý nghĩa của lời cầu nguyện rất rõ ràng. Khi gọi Đức Maria là Theotokos, chúng ta tìm kiếm sự bảo vệ và trợ giúp của Mẹ trước mọi nhu cầu và hiểm nguy. Khi kêu tên Đức Maria là Theotokos, ta sẽ cảm thấy Mẹ đang ở bên chúng ta. Tóm lại, đây là lời cầu nguyện đầy tin tưởng xin Mẹ chuyển cầu và nâng đỡ.

    Thánh thi Akathistos

    Thánh thi Akathistos[9] có lẽ là bài thánh ca hay nhất dâng lên Đức Trinh Nữ Maria trong Giáo Hội Kitô giáo, được viết bằng tiếng Hy Lạp. Tác phẩm này được cho là của thánh Rômanos Melodos (+ khoảng 560), nhưng bao hàm các văn bản từ thế kỷ VIII nói về chiến thắng quân Hồi giáo năm 717-718. Thánh thi Akathistos được hát một phần ở Giáo Hội Chính thống Hy Lạp trong Kinh Tối vào năm ngày thứ Sáu đầu tiên của Mùa Chay. Còn vào thứ Sáu tuần V Mùa Chay thì toàn bộ Thánh thi Akathistos được đọc. Trong Giáo Hội Chính thống Nga, Thánh thi Akathistos được hát trọn vẹn vào giờ Kinh Sáng thứ Bảy tuần V Mùa Chay. Bài thánh thi khá dài, chiếm hơn chín trang trong bản dịch tiếng Anh. Quả là một thử thách tính kiên trì khi bài ca được cất lên hoàn toàn trong tư thế đứng (do đó có tên gọi như vậy). Hình thức văn học của Thánh thi Akathistos khá phức tạp, bao gồm các khổ thơ dài (ikoi) và những khổ ngắn hơn (kontakia) mang yếu tố tự sự nhất định, dựa trên các sách Phúc Âm thời thơ ấu từ truyền tin đến lễ dâng Chúa Giêsu trong đền thờ. Các khổ thơ dài là 30 lời chào Đức Maria, bắt đầu bằng “Kính chào” (Chaire, “Hãy vui lên”) và kết thúc bằng “Kính chào, Hôn thê không chú rể”. Đức Maria vừa là Trinh Nữ vừa là Mẹ. Như trong một lời chào hay lời tán tụng, Đức Maria được ca ngợi là “dạ cưu mang sự nhập thể thần thiêng”. Vì mang trong mình Con Thiên Chúa, Đức Maria chính là “ngai tòa của Chúa”. Trong Kontakion 2, việc thụ thai thần linh được nhắc lại: quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên Mẹ, và Người khiến Mẹ “trở thành cõi lòng huyền nhiệm và cánh đồng phì nhiêu” với mùa gặt là ơn cứu độ. Mầu nhiệm Nhập Thể được công bố và suy ngẫm (có lẽ chúng ta quá coi đó là điều hiển nhiên), và Đức Maria được nhìn trong bối cảnh lịch sử cứu độ: Mẹ là chiếc thang thiên đàng đưa Chúa Kitô xuống với chúng ta. Mẹ là “cánh cổng của mầu nhiệm thánh” và cây cầu nối kết đất trời. Mẹ báo trước vinh quang phục sinh (chúng ta cần hiểu thân xác Mẹ cưu mang cũng chính là thân xác phục sinh vinh hiển). Mẹ là “nơi cư ngụ của Thiên Chúa”, chứa đựng Đấng mà không lệ thuộc không gian và thời gian, cụm từ “nơi cư ngụ của Thiên Chúa” gợi nhớ đến cách diễn đạt của Tây phương bắt nguồn từ Cựu Ước: Đức Maria là hortus conclusus – khu vườn khép kín nơi Con Thiên Chúa ngự đến. Mẹ cũng tiên trưng giếng Rửa tội vì mang trong mình nguồn mạch ân sủng là Chúa Giêsu Kitô.

    Ngoài ra còn có nhiều lời tán tụng khác ca ngợi vinh quang Đức Maria với những thuật ngữ quen thuộc trong truyền thống Tây phương: Mẹ là “cổng trời” (Janua caeli), là nhà tạm của Ngôi Lời Thiên Chúa, là Hòm Bia “được Thánh Thần thêu vàng”, là mẹ của Ngôi Sao tức là Chúa Kitô, là Ánh Sao Mai hay Mặt Trời mọc phương đông và là “loan phòng” (xem Tv 18), vì Mẹ là trung gian nối kết giữa Thiên Chúa và người tín hữu. Mẹ chính là ngôi sao vì sinh ra Mặt Trời Công Chính. Những điều này cùng nhiều nội dung khác có trong Thánh Thi Akathistos, (xem sách The Akathistos Hymn to the Most Holy Mother of God do Ecumenical Society of the Blessed Virgin Mary xuất bản năm 1987, bản dịch của Mẹ Mary, cùng Giám mục Kallistos và Roger Green.)

    Đức Hữu


    [1] Alma Redemptóris Mater, quæ pérvia cæli
    Porta manes, et stella maris, succúrre cadénti,
    Súrgere qui curat pópulo: tu quæ genuísti,
    Natúra miránte, tuum sanctum Genitórem
    Virgo prius ac postérius, Gabriélis ab ore
    Sumens illud Ave, peccatórum miserére.

    [2] Ave, Regina cælorum,
    Ave, Domina Angelorum:
    Salve, radix, salve, porta
    Ex qua mundo lux est orta:

    Gaude, Virgo gloriosa,
    Super omnes speciosa,
    Vale, o valde decora,
    Et pro nobis Christum exora.

    [3] Regina cæli, lætare, alleluia;
    Quia quem meruisti portare, alleluia,
    Resurrexit, sicut dixit, alleluia:
    Ora pro nobis Deum, alleluia.

    [4] Salve, Regina, Mater misericordiæ,
    vita, dulcedo, et spes nostra, salve
    Ad te clamamus exsules filii Hevæ
    Ad te suspiramus, gementes et flentes
    in hac lacrimarum valle.


    Eia, ergo, advocata nostra, illos tuos
    misericordes oculos ad nos converte;
    Et Iesum, benedictum fructum ventris tui,
    nobis post hoc exsilium ostende.
    O clemens, O pia, O dulcis Virgo Maria.

    [5] Về lịch sử kinh Salve Regina và Regina caeli xem H. Thurston, SJ, Familiar Prayers (1953) trang 118-145 và trang 146-151. Về kinh Alma Redemptoris, Ave Regina caelorum cùng các thánh thi phụng vụ khác được nhắc đến, xem Joseph Connelly, Hymns of the Rôman Liturgy (1957), trang 44-47, trang 186-190 (Stabat Mater).

    [6] 1. Stabat mater dolorósa
    juxta Crucem lacrimósa,
    dum pendébat Fílius.

    2. Cujus ánimam geméntem,
    contristántem et doléntem
    pertransívit gládius.

    3. O quam tristis et afflícta
    fuit illa benedícta,
    mater Unigéniti!

    4. Quæ mœrébat et dolébat,
    pia Mater, dum vidébat
    nati pœnas ínclyti.

    5. Quis est homo qui non fleret,
    matrem Christi si vidéret
    in tanto supplício?

    6. Quis non posset contristári
    Christi Matrem contemplári
    doléntem cum Fílio?

    7. Pro peccátis suæ gentis
    vidit Jésum in torméntis,
    et flagéllis súbditum.

    8. Vidit suum dulcem Natum
    moriéndo desolátum,
    dum emísit spíritum.

    9. Eja, Mater, fons amóris
    me sentíre vim dolóris
    fac, ut tecum lúgeam.

    10. Fac, ut árdeat cor meum
    in amándo Christum Deum
    ut sibi compláceam.

    11. Sancta Mater, istud agas,
    crucifíxi fige plagas
    cordi meo válide.

    12. Tui Nati vulneráti,
    tam dignáti pro me pati,
    pœnas mecum dívide.

    13. Fac me tecum pie flere,
    crucifíxo condolére,
    donec ego víxero.

    14. Juxta Crucem tecum stare,
    et me tibi sociáre
    in planctu desídero.

    15. Virgo vírginum præclára,
    mihi iam non sis amára,
    fac me tecum plángere.

    16. Fac ut portem Christi mortem,
    passiónis fac consórtem,
    et plagas recólere.

    17. Fac me plagis vulnerári,
    fac me Cruce inebriári,
    et cruóre Fílii.

    18. Flammis ne urar succénsus,
    per te, Virgo, sim defénsus
    in die judícii.

    19. Christe, cum sit hinc exire,
    da per Matrem me veníre
    ad palmam victóriæ.

    20. Quando corpus moriétur,
    fac, ut ánimæ donétur
    paradísi glória. Amen.

    [7] Ave, maris stella,
    Dei mater alma,
    atque semper virgo,
    Felix cæli porta.

    Sumens illud Ave
    Gabrielis ore,
    funda nos in pace,
    mutans Evæ nomen.

    Solve vincla reis,
    profer lumen cæcis,
    mala nostra pelle,
    bona cuncta posce.

    Monstra te esse matrem,
    sumat per te precem
    qui pro nobis natus
    tulit esse tuus.

    Virgo singularis,
    inter omnes mitis,
    nos culpis solutos
    mites fac et castos.

    Vitam præsta puram,
    iter para tutum,
    ut videntes Jesum
    semper collætemur.

    Sit laus Deo Patri,
    summo Christo decus,
    Spiritui Sancto
    tribus honor unus. Amen

    [8] Sancta Dei Genetrix.

    Nostras deprecationes ne despicias in necessitatibus,

    Sed a periculis cunctis libera nos semper,

    Virgo gloriosa et benedicta. Amen

    [9] Propugnatori magistratui victoriae

    Sicut redemta a diris, gratiarum actiones

    Rescribo tibi, Civitas tua, Dei Genitrix!

    Sed sicut habens imperium inexpugnabile,

    De omnibis periculis me libera

    Ut clamo tibi: Ave sponsa insponsata.

    INCIPIT HYMNUS

    Alpha

    Angelus primi status celitus missus est dicere Dei Genitrici: Ave. Et

    cum incorporea voce incorporantem te videns, Domine, pavescebat et stabat clamans ed eam talia:

    Ave per quam gaudium splendebit.

    Ave per quam maledictio deficiet.

    Ave cadentis Adam resurrection.

    Ave lacrimarum Evae redmptio.

    Ave altitudo inascensibilis humani cogitationibus.

    Ave profunditas invisibilis et angelorum oculis.

    Ave quae es imperatoris solium.

    Ave quae portas portantem omnia.

    Ave stella demonstrans solem.

    Ave uterus divinae incarnationis.

    Ave per quam renovatur creatura.

    Ave cum qua adoratur plasmator.

    Ave sponsa insponsata.

    Beta

    Videns Sancta seipsam in castitate iniquit Gabrieli fiducialiter:

    Quod excellet tuae voci insusceptibile animae meae apparet; absque enim semine conceptionis partum predicis clamans: Alleluia.

    Gamma

    Notitiam ignotam noscere virgo querens clamavit ad ministrantem: Ex lumbis ingenerantibus filium nasci quomodo est posibile, dic mihi? Ad quam ille locutus est sicut consequebatur in timore clamans:

    Ave consilii arcani initiatrix.

    Ave honore superior omni.

    Ave mirabilium Christi primitae.

    Ave dogmatum ejus capitulum.

    Ave scala celestis per quam descendit Deus.

    Ave sponsatrix transducens terrenos in celum.

    Ave angelorum multirumigerulum miraculum.

    Ave demoniorum multimodum lamentans vulnus.

    Ave lucem arcanam generans.

    Ave quomodo neminem docens.

    Ave sapientium suprascendens scientiam.

    Ave fidelium splendens prudentia.

    Ave sponsa insponsata.

    Delta

    Virtus altissimi obumbravit tunc ad conceptionem innuptam et

    fructiferum ejus alvum sicut agrum ostendit dulcem omnibus volentibus metere salutem in psallendo sic: Alleluia.

    Epsilon

    Habens Dei susceptibilem Maria matricem cucurrit ad Elisabeth; et

    infans illius continuo cognoscens ipsius salutationem gaudebat et ex

    saltationibus, sicut canticis, clamabat ad Dei Genitricem:

    Ave germinis immarcescibilis vitis.

    Ave fructus intonsilis possessio.

    Ave agricolans humanum.

    Ave plantatorem vitae nostrae germinans.

    Ave arvum pullulans copiam miserationum.

    Ave mensa gestans abundantiam propitiationum.

    Ave redolentiam escae reflorens.

    Ave portum animarum preparans.

    Ave acceptabile intercessionis thimiama.

    Ave omnis orbis propitiatio.

    Ave Dei ad mortales bona voluntas.

    Ave mortalium ad Deum fiducia.

    Ave sponsa insponsata.

    Zeta

    Aestum mentis habens cogitationibus dubiis castus Joseph turbatus est ante innuptam te videns et furto te nuptam suspicans, Impolluta!

    Discens autem conceptionem ex Spiritu Sancto dixit: Alleluia.

    ***

    Eta

    Audierunt pastores angelis hymnizantibus carnalem Christi presentiam et currentes velociter sicut ad pastorem, vident illum tamquam agnum immaculatum in utero Mariae pastum et laudantes dixerunt:

    Ave Agni et Pastoris mater.

    Ave aula rationabilem ovium.

    Ave invisibilium bestiarum ultio.

    Ave paradisi ostiorum apertio.

    Ave quia celestia coexultant terrae.

    Ave quia terrestria colletantur Christo.

    Ave apostolorum os intacibile.

    Ave martyrum invictissima fiducia.

    Ave luminis naturae stabilitio.

    Ave splendida gratiae cognitio.

    Ave per quam nudificatus est infernus.

    Ave per quam induti sumus gloria.

    Ave sponsa insponsata.

    Theta

    Deum accurentem stellam videntes Magi ipsius secuti sunt splendorem, et sicut lucernam tenentes eam per ipsam scrutabantur Lampadem surrectam et consequentes Inconsequibilem clamaverunt matri ejus: Alleluia.

    Iota

    Viderunt pueri Chaldeorum in manibus Virginis qui plasmavit manibus homines et Dominum intelligentes eum si et servi accepti formam festinaverunt muneribus famulari et clamaverunt benedictae:

    Ave inoccidentis maris stella.

    Ave mystici diei sol.

    Ave suasionis caminum desinens.

    Ave Trinitati initatores custodiens.

    Ave tyrranorum inhumanorum pricipatum eiciens.

    Ave Dominum humanum ostendens Christum.

    Ave barbarum religionem redimens.

    Ave a ceni operibus eruens.

    Ave ignis adorationem extinguens.

    Ave flamma vitiorum carens.

    Ave Persarum dux pudicitiae.

    Ave omnium gentium letitia.

    Ave sponsa insponsata.

    Kappa

    Predicatores Dei facti Magi reversi sunt in Babylonem, perficientes

    tuam functionem et predicantes te Christum omnibus, sinentes Herodem tamquam irrisum nescientem psallere: Alleluia.

    Lambda

    Splendens in Aegypto illuminationem veritatis, eiecisti tenebras

    falsitatis simulacra enim ejus, Salvator, non ferentia tuam

    potentiam, corruerunt; hi autem exclamaverunt ad Dei Genitricem:

    Ave erectio hominum.

    Ave ruina demonum.

    Ave quae potentiam erroris conculcasti.

    Ave idolorum dolum arguens.

    Ave mare quae mersisti Pharonem intelligibilem.

    Ave petra quae potasti sitientes vitam.

    Ave ignea columna ducens eos qui sunt in tenebris.

    Ave tegumentum mundi amplius nubis.

    Ave esca mannae succedens.

    Ave escae sanctae ministra.

    Ave casta terra promissionis.

    Ave ex qua fluit me et lac.

    Ave sponsa insponsata.

    Mu

    Debitum Simeoni de presenti vita transeunti ac de seculo migranti

    redditus est sicut infans. Sec cogitus illi et Deus perfectus ideo

    obstupuit tibi indefluam substantiam clamans: Alleluia.

    ***

    Nu

    Novam ostendit creaturam manifestans Creator nobis ab ipso factis,

    sine semine germinans fructus et conservans illam sicut erat

    incorruptam; ut miraculum videntes eam dicentes:

    Ave flos incorruptionis.

    Ave corona continentiae.

    Ave resurrectionis figuram persplendens.

    Ave ex his gentium vitam demonstrans.

    Ave arbor splendidia fructifera ex qua nutriuntur fideles.

    Ave folium bene umbrosum quo teguntur multi.

    Ave partum ferens redemptionem captivis.

    Ave generans ductorem errantium.

    Ave judicis omnium exoratio.

    Ave delictorum indulgentia.

    Ave stola nudorum fidissima.

    Ave affectio omnem amorem vincens.

    Ave sponsa insponsata.

    Chi

    Peregrinam genituram videntes peregrinatur a mundo, mentem in celo trasponentes: ideo enim Altissimus in terra nobis ostensus est

    humilis hominibus, volens attrahere ad altitudinem celorum fideliter

    clamantes: Alleluia.

    Omicron

    Totum erat in imis et supernis; nullo modo aberat incircumscriptum

    verbum: dispensatio enim divina non translatio autem localis facta

    est et gentium de Virgine deum-susceptibile, audiens haec:

    Ave Dei capabilis regio.

    Ave venerandi mysterii aula.

    Ave infidelium dubitata auditio.

    Ave fidelium indubitata gloriatio.

    Ave habitus ejus sanctissimus qui est super Cherubim.

    Ave cella omnifinita ei qui est in Seraphim.

    Ave contraria in seipsa ducens.

    Ave puerperium et virginitatem jungens.

    Ave per quam absoluta est transgressio.

    Ave per quam apertus est paradisus.

    Ave porta Christi regni.

    Ave spes bonorum eterna.

    Ave sponsa insponsata.

    Pi

    Omnis natura angelorum stupuit magnum tuae incarnationis opus:

    intractabilem enim viderunt tractabilem, hominibus nobiscum quidem

    commorantem, audientem autem ab omnibus: Alleluia.

    Rho

    Rhetores multisonos, sicut pisces insonos, videmus in te, Dei

    Genitrix: incertant enim dicere: "Quomodo et virgo manens et parere

    potuisti?" Nos autem mysterium admirantes, fideliter clamamus:

    Ave sapientiae Dei susceptorium.

    Ave providentiae ejus signum.

    Ave philosophos insipientes ostendens.

    Ave artilogorum sermones arguens.

    Ave qua stulti facti sunt diri conquisitores.

    Ave qua stulti facti sunt fabularum poetae.

    Ave Atheniensium nexus divellens.

    Ave piscatorum sagenas replens.

    Ave de profunditate ignorantiae extrahens.

    Ave multos scientia divitificans.

    Ave navis volentium salvari.

    Ave portus vitae nautarum.

    Ave sponsa insponsata.

    Sigma

    Salvare volens mundum omnium Ornator in hoc ipse prenuntiatus venit; et cum esset Pastor et Deus pro nobis apparuit erga nos ovis, simili autem clamans sicut voluit audire: Alleluia.

    ***

    Tau

    Murus est virginum Dei Genitrix Virgo et omnium ad te currentium:

    celi enim et terrae condidit te Creator, Incontaminata, habitans in

    utero tuo et omnes acclamare docens:

    Ave columna virginitatis.

    Ave porta salutis.

    Ave princeps redemptae plasmationis.

    Ave tributrix divinae benignitatis.

    Ave, tu enim regenerasti furiatos mente.

    Ave, tu enim intellectum dedisti errantibus prius.

    Ave quae corruptorum mentium confundis.

    Ave quae seminatorem castitatis genuisti.

    Ave thalamus nuptiarum incorruptibilium.

    Ave fideles Domino conjugens.

    Ave bona nutrix Domini Virgo.

    Ave veneranda sponsalis stola sanctorum.

    Ave sponsa insponsata.

    Ypsilon

    Hymnus omnis et laus contendit delibare multitudinem multarum

    miserationum tuarum quae numero psalmos et cantica offerium tibi, Rex benigne; sed nihil perficimus dignum de quibus dedisti fide

    clamantibus: Alleluia.

    Phi

    Luminis susceptricem lampadem in tenebris ostensam vidimus sanctam Virginem: immaterialem autem accendens ignem, ducit ad iter divinum semper, splendore mentem illuminans, clamore autem honorificata isto:

    Ave radius intelligibilis solis.

    Ave splendor increati luminis.

    Ave fulgor animas illustrans.

    Ave sicut verra inimicos everrens.

    Ave quae multi-lumine oriris illuminationem.

    Ave quae multi-munere refluis calicem.

    Ave piscinae salutaris pingens figuram

    Ave peccati tollens cenum.

    Ave luter emundans conscientiam.

    Ave crater fidelium exultatio.

    Ave odor Christi boni odoris.

    Ave vita mysticae epulationis.

    Ave sponsa insponsata.

    Xi

    Gratiam dare volens salutationibus antiquis omnium debitorum

    Absolutor hominum advenit per se ad suae existentes gratiae et

    rumpens chirographum audit ab omnibus: Alleluia.

    Psi

    Psallentes tuam genituram, favoramus omnes sicut animatum templum, Dei Genitrix: in tuo enim habitans utero, qui continet omnia manu Dominus sanctificavit, glorificavit, docuit clamare tibi omnes:

    Ave tabernaculum Dei et Verbi.

    Ave sancta sanctorum major.

    Ave archa Sancto deaurata Spiritu.

    Ave thesaurus vitae inconsummabilis.

    Ave honorificum diadema imperatorum piorum.

    Ave glorificatio colenda sacerdotum venerabilium.

    Ave ecclesiae immobilis columna.

    Ave imperii inexpugnabilis murus.

    Ave per quam surgunt trophes.

    Ave per quam hostes corruunt.

    Ave animae meae patrocinatio.

    Ave lucis meae medela.

    Ave sponsa insponsata.

    Omega

    Omnilauda mater quae genuisti omnium sanctorum sanctissimum Verbum, suscipiens igitur oblationem ab omni erue calamitate omnes eta futura libera punitione qui sic clamant: Alleluia.

    Bài viết liên quan